Vốn tỷ đô hướng vào công nghệ cao, công nghiệp Việt chạy đua nâng cấp
Các tập đoàn toàn cầu đang tìm kiếm những điểm đến có năng lực sản xuất hiện đại, công nghệ và hệ sinh thái cung ứng đủ sức đáp ứng. Với 72 doanh nghiệp đạt doanh thu 177,9 tỷ USD trong Fortune Southeast Asia 500 năm 2026, Việt Nam có nền tảng tăng trưởng đáng kể, nhưng muốn cạnh tranh dòng vốn tỷ đô, công nghiệp nội địa phải nâng cấp mạnh hơn.
Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư đang chuyển sang giai đoạn mới, khi các tập đoàn không chỉ cân nhắc quy mô vốn, chi phí hay ưu đãi mà còn đánh giá năng lực vận hành của cả hệ sinh thái sản xuất. Một điểm đến hấp dẫn phải có hạ tầng đồng bộ, nhân lực kỹ thuật, công nghệ hiện đại và mạng lưới nhà cung ứng đủ sức tham gia.
Dòng vốn đổi hướng, tiêu chuẩn cạnh tranh tăng cao
Tại Diễn đàn Hợp tác Đầu tư TP.HCM năm 2026 diễn ra hôm 2/11, Ts. Andrew Staples, Giám đốc biên tập khu vực châu Á của Fortune, đưa ra những số liệu đáng chú ý về sức bật doanh nghiệp (DN) Việt Nam.

Các dự án FDI công nghệ cao đòi hỏi hệ sinh thái sản xuất đồng bộ, từ hạ tầng, nhân lực đến mạng lưới nhà cung ứng nội địa đủ năng lực tham gia.
Theo bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 năm 2026, dựa trên dữ liệu tài chính năm 2025, tổng doanh thu của 500 DN lớn nhất Đông Nam Á đạt 1.880 tỷ USD, tăng 3,4%. Lợi nhuận toàn bảng đạt 150 tỷ USD, với biên lợi nhuận ròng 8%.
Trong đó, 72 DN Việt Nam đạt tổng doanh thu 177,9 tỷ USD, tăng 10,5%. Mức tăng này cao gấp ba lần bình quân khu vực, đưa Việt Nam vào nhóm tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á, chỉ sau Campuchia.
Đáng chú ý, 72 DN Việt Nam trong bảng xếp hạng đóng góp khoảng một phần tư tổng mức tăng trưởng doanh thu của toàn bộ danh sách Fortune Southeast Asia 500 năm nay, dù quy mô doanh thu ban đầu mới chỉ chiếm chưa đầy 10% tổng doanh thu toàn bảng. Con số này đang mở ra dư địa nâng tầm năng lực sản xuất.
Tuy nhiên, tăng trưởng doanh thu chưa đồng nghĩa với việc làm chủ những khâu có hàm lượng công nghệ cao. Ông Staples nhấn mạnh Việt Nam cần đẩy mạnh sản xuất tiên tiến, đổi mới sáng tạo và nâng cấp công nghiệp. Trọng tâm là tự động hóa, điện khí hóa, quản lý năng lượng, vật liệu tiên tiến và sản xuất tiết kiệm tài nguyên.
Nâng cấp công nghiệp không chỉ là đầu tư máy móc, mà còn đòi hỏi nhân lực chất lượng, quản trị tốt và năng lực ứng dụng công nghệ. Sự liên kết giữa tập đoàn nước ngoài, nhà cung ứng nội địa và các cơ sở đào tạo sẽ quyết định mức độ lan tỏa của dự án.
72 doanh nghiệp Việt Nam góp mặt trong Fortune Southeast Asia 500 năm 2026, đạt tổng doanh thu 177,9 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm trước. Mức tăng cao gấp ba lần bình quân khu vực, đóng góp khoảng 25% mức tăng doanh thu của toàn bảng xếp hạng.
Yêu cầu nâng cấp công nghiệp càng rõ khi cơ cấu đầu tư toàn cầu đang thay đổi. Công ty chứng khoán Shinhan nhận định dòng vốn FDI ngày càng hướng vào công nghệ cao, năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và các hoạt động khoa học, kỹ thuật.
Trong đó, chế biến, chế tạo tiếp tục là trụ cột thu hút FDI, với lợi thế từ các FTA, quỹ đất công nghiệp và môi trường ổn định. Tuy nhiên, biến động thương mại và bất định thuế quan đang khiến nhà đầu tư thận trọng hơn với các quyết định dài hạn.
Cơ hội hợp tác cũng được mở rộng thông qua các hiệp định thương mại (FTA) mới. Đơn cử như trong tháng 10/2026, Việt Nam ký FTA với Khối Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein tại Hà Nội. Đây là FTA thứ 18 của Việt Nam, mở thêm dư địa kết nối với những nền kinh tế có thế mạnh về công nghệ và sản xuất chất lượng cao.
Theo phân tích của Công ty chứng khoán Yuanta, Thụy Sĩ đứng thứ 20 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký lũy kế khoảng 2,5 tỷ USD. Các lĩnh vực có tiềm năng hợp tác gồm dược phẩm, khoa học sự sống, máy móc, thực phẩm cao cấp và năng lượng sạch.
FTA chỉ mở ra cơ hội, còn dòng vốn phụ thuộc vào lợi ích kinh doanh và môi trường vận hành thuận lợi. Vì vậy, Việt Nam cần hoàn thiện hệ sinh thái công nghệ cao, từ hạ tầng, năng lượng, logistics đến nhân lực và mạng lưới cung ứng. Đây là điều kiện để biến lợi thế thương mại thành cam kết đầu tư dài hạn.
Không chỉ sản xuất, các lĩnh vực y tế, làm đẹp, chăm sóc cá nhân, phân phối và dịch vụ cũng mở ra dư địa hợp tác. Theo ông Staples, Việt Nam cần xây dựng quy định minh bạch, ổn định về nguồn hàng, nhập khẩu, phân phối và bán lẻ. Đây là cơ sở tạo niềm tin để nhà đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh.
Khối nội phải bước vào cuộc chơi lớn
Ngay cả khi thu hút được dự án công nghệ cao, hiệu quả lan tỏa vẫn phụ thuộc vào khả năng kết nối với DN khối nội. Đây là mắt xích còn yếu trong quan hệ giữa khu vực FDI, các tập đoàn lớn và DN nhỏ và vừa.
Ông Phạm Văn Triêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM, cho biết nhiều tập đoàn FDI có nhu cầu lớn về nguyên vật liệu, linh kiện, dịch vụ và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, không ít DN Việt vẫn đứng ngoài cơ hội này, dù một số đơn vị đã có năng lực sản xuất nhất định.
Rào cản của nhiều DN không chỉ là máy móc, vốn mà còn nằm ở thiếu thông tin khách hàng, hạn chế về tiêu chuẩn kỹ thuật và quản trị. Muốn tham gia chuỗi cung ứng, các DN nội địa phải chứng minh năng lực về chất lượng, giá thành, tiến độ, sản xuất ổn định và minh bạch trong quản trị.
Muốn tham gia chuỗi cung ứng FDI, doanh nghiệp Việt phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chất lượng, giá thành, tiến độ giao hàng và sản xuất ổn định. Kết nối trực tiếp giữa tập đoàn FDI với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đi cùng hỗ trợ về tiêu chuẩn, công nghệ và quản trị, là hướng nâng năng lực nhà cung ứng nội địa.
Theo ông Triêm, cần hình thành cơ chế kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI với DN nhỏ và vừa trong nước. Các tập đoàn nên công bố nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện hợp tác. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý và hiệp hội có thể lựa chọn, đào tạo, hỗ trợ những nhà cung ứng tiềm năng.
Cách làm này giúp DN Việt xác định chính xác khâu cần đầu tư, thay vì mua sắm máy móc theo phong trào rồi mới tìm đầu ra. Khi yêu cầu của bên mua được công khai, doanh nghiệp cũng có cơ sở xây dựng lộ trình nâng cấp công nghệ, nhân lực và quản trị phù hợp.
Ở cấp độ địa phương, TP.HCM cũng đặt trọng tâm vào chất lượng hợp tác dài hạn. Ông Nguyễn Lộc Hà, Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM, cho biết thành phố muốn thu hút đối tác trong các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, công nghệ cao, tài chính, logistics và năng lượng xanh.
Mục tiêu không chỉ là bổ sung nguồn vốn, mà còn tiếp nhận công nghệ hiện đại, phương thức quản trị tiên tiến và phát triển nhân lực. Thành phố khuyến khích liên kết giữa DN nước ngoài với DN trong nước, trường đại học và viện nghiên cứu.
Thông qua mạng lưới Fortune, TP.HCM đã tiếp nhận hơn 30 đề xuất thuộc 8 nhóm chủ đề, tập trung vào đầu tư mới, mở rộng dự án, nâng cấp công nghệ, phát triển hạ tầng và nhân tài. Những đề xuất này cho thấy nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến cơ hội kinh doanh. Họ còn đặt yêu cầu cao về mô hình hợp tác công tư, thủ tục hành chính, đất đai và sự phối hợp giữa các cơ quan.
Đây cũng là những điều kiện quyết định khả năng biến sự quan tâm thành dự án cụ thể. Muốn thu hút và giữ chân dòng vốn tỷ đô, Việt Nam cần thủ tục thông suốt, chính sách ổn định và môi trường đầu tư minh bạch. Quan trọng hơn, DN nội địa phải nâng cao năng lực công nghệ, nhân lực và cung ứng để đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu. Khi đó, các dự án lớn mới thực sự tạo thêm đơn hàng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và bồi đắp năng lực công nghiệp, thay vì chỉ dừng ở những con số vốn đăng ký.

