Doanh nghiệp phải là nơi biến công nghệ vật liệu thành giá trị

Định hướng phát triển công nghiệp vật liệu đang đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình từ đổi mới công nghệ đến sản xuất, thương mại hóa. Theo Bộ Công Thương, thay vì chỉ mở rộng công suất, doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm sang nâng chất lượng, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và phát triển các sản phẩm mới.

Tại hội thảo “Tuyên truyền phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam”, ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho rằng, phát triển công nghiệp vật liệu không thể chỉ dừng ở nghiên cứu, mà cần hình thành năng lực từ nghiên cứu, sản xuất đến thương mại hóa. Trong chuỗi đó, doanh nghiệp phải giữ vai trò chủ thể đầu tư, đổi mới công nghệ và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Kết luận số 83 xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, cung cấp đầu vào cho hầu hết các ngành kinh tế. Trình độ phát triển của ngành vật liệu cũng phản ánh khả năng làm chủ công nghệ và mức độ chế biến của nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thành, cách tiếp cận trong xây dựng chương trình hành động và chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu là hình thành năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia theo một chuỗi tương đối đầy đủ, từ nguồn nguyên liệu, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tiêu chuẩn, thử nghiệm, kiểm định đến thị trường. Sau sản xuất còn phải tính đến thu hồi, tái sinh, tái chế, qua đó gắn phát triển vật liệu với kinh tế tuần hoàn.

Doanh nghiệp là chủ thể đưa công nghệ vào sản xuất

Một trong những định hướng đáng chú ý là tăng cường liên kết giữa các trung tâm nghiên cứu, viện, trường và doanh nghiệp. Kết luận số 83 đặt mục tiêu đến năm 2028 phấn đấu hình thành 3-5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia. Theo đó, thay vì đầu tư dàn trải, cách tiếp cận được đặt ra là ưu tiên liên kết, tổ chức lại và nâng cấp năng lực hiện có, xây dựng cơ chế sử dụng chung cho viện, trường và doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương.

Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương.

Trong mô hình này, Nhà nước tập trung vào kiến tạo thể chế, phát triển nền tảng hạ tầng và xử lý những khâu mà thị trường chưa thể tự giải quyết. Ngược lại, doanh nghiệp được đặt vào vị trí chủ thể đầu tư, đổi mới công nghệ, sản xuất và thương mại hóa.

Ông Nguyễn Ngọc Thành nhấn mạnh, với vai trò chủ thể đầu tư, doanh nghiệp cần trực tiếp đổi mới công nghệ sản xuất của mình, tạo ra hai giá trị cơ bản là nâng năng suất và phát triển sản phẩm mới. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp có thể gắn kết sâu hơn với chuỗi giá trị toàn cầu.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển. Các viện nghiên cứu, trường đại học có vai trò quan trọng trong nghiên cứu công nghệ vật liệu mới, nhưng doanh nghiệp là chủ thể đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần tạo điều kiện để công nghệ mới có thời gian hình thành, đồng thời gắn hỗ trợ với kết quả đầu ra.

Theo định hướng của Bộ Công Thương, việc lựa chọn lĩnh vực và công đoạn ưu tiên cũng phải căn cứ vào năng lực của doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển và sản xuất, cùng với nhu cầu thực tế và quy mô thị trường. Đây là cơ sở để tránh đầu tư dàn trải trong bối cảnh phạm vi công nghiệp vật liệu rất rộng nhưng nguồn lực có hạn.

Từ mở rộng công suất sang nâng giá trị

Một yêu cầu khác được đặt ra là thay đổi trọng tâm phát triển đối với những ngành vật liệu cơ bản đã có quy mô lớn. Thay vì tiếp tục chạy theo mở rộng công suất, doanh nghiệp cần tập trung vào nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Doanh nghiệp phải là nơi biến công nghệ vật liệu thành giá trị. (Ảnh minh họa)

Doanh nghiệp phải là nơi biến công nghệ vật liệu thành giá trị. (Ảnh minh họa)

Đối với khoáng sản, định hướng là phát triển theo toàn bộ chuỗi giá trị, từ điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến đến sử dụng, thu hồi và tái chế. Với đất hiếm, giá trị không chỉ nằm ở khai thác mà cần từng bước hình thành năng lực chế biến sâu, phát triển kim loại đất hiếm, nam châm đất hiếm và vật liệu từ. Tương tự, chuỗi bauxite - alumin - nhôm cần được tiếp tục phát triển theo hướng gia tăng các công đoạn chế biến và sản phẩm có giá trị cao hơn.

Trong lĩnh vực thép, nhu cầu từ các dự án hạ tầng, đường sắt cao tốc, năng lượng và giao thông có thể tạo ra thị trường cho những sản phẩm thép chất lượng cao. Theo ông Nguyễn Ngọc Thành, chính các chương trình, dự án lớn có thể trở thành nguồn cầu, tạo điều kiện hình thành năng lực vật liệu trong nước.

Bởi vậy, phát triển công nghiệp vật liệu không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là câu chuyện thị trường. Nếu quy mô thị trường quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư một dây chuyền hoặc dự án sản xuất sản phẩm vật liệu mới, bởi việc tạo ra sản phẩm chưa đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế. Khi tạo được quy mô thị trường đủ lớn, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đầu tư nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ.

Đáng chú ý, định hướng phát triển công nghiệp vật liệu cũng không đồng nhất tính tự chủ với việc tự sản xuất toàn bộ. Tự chủ được hiểu là khả năng kiểm soát và bảo đảm các khâu thiết yếu, duy trì năng lực ứng phó khi nguồn cung bên ngoài bị gián đoạn. Do đó, bên cạnh sản xuất trong nước, có thể kết hợp đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ và các hình thức đầu tư phù hợp.

Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận công nghệ mà trở thành mắt xích quyết định để biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, năng suất và giá trị gia tăng. Đây cũng là nền tảng để công nghiệp vật liệu từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu ngày càng lớn của nền kinh tế.

Đình Khương

Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/doanh-nghiep-phai-la-noi-bien-cong-nghe-vat-lieu-thanh-gia-tri-746087.html