Đổi mới mô hình phát triển - động lực đưa đất nước tăng trưởng nhanh và bền vững - Bài 2: Mở đường cho những động lực phát triển mới (Tiếp theo và hết)
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là thay đổi cách thức tăng trưởng, mà trước hết là tạo dựng những điều kiện để các nguồn lực được giải phóng và chuyển hóa thành năng lực phát triển thực tế. Trong đó, thể chế phải trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người phải trở thành những động lực trực tiếp; còn năng lực tổ chức thực hiện phải biến chủ trương, chính sách thành kết quả cụ thể. Đây là những yêu cầu then chốt để Việt Nam hình thành năng lực tăng trưởng cao, liên tục và bền vững trong giai đoạn mới.
Thể chế phải trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh
Mọi mô hình phát triển đều được vận hành thông qua thể chế. Một tư duy phát triển mới khó tạo ra kết quả mới nếu vẫn bị giới hạn bởi những quy định chồng chéo, quy trình kéo dài, cách quản lý nặng về tiền kiểm và tâm lý không dám chịu trách nhiệm.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số nguồn lực chưa được giải phóng đầy đủ. Có dự án chậm triển khai không phải vì thiếu vốn hay thiếu nhu cầu, mà vì vướng mắc giữa các quy định pháp luật. Có sáng kiến công nghệ chưa thể đi vào cuộc sống vì chưa có không gian thử nghiệm. Có cán bộ nhìn thấy việc cần làm nhưng còn e ngại trách nhiệm khi ranh giới giữa năng động, sáng tạo với sai phạm chưa được phân định rõ.

Ảnh minh họa: Báo Đầu tư
Bởi vậy, đột phá thể chế trong giai đoạn mới phải vượt khỏi việc sửa đổi từng quy định riêng lẻ, hướng tới nâng cao tổng thể năng lực quản trị và tổ chức thực hiện. Pháp luật phải minh bạch, ổn định, thống nhất, dễ dự báo; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm; phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp. Những mô hình kinh doanh, công nghệ mới cần có hành lang thử nghiệm được kiểm soát, xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và cơ chế xử lý rủi ro.
Đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần chuyển mạnh từ quản lý quá trình, thủ tục, chứng từ sang quản lý theo mục tiêu, chất lượng và sản phẩm cuối cùng. Nghiên cứu khoa học luôn hàm chứa rủi ro; nếu không có cơ chế chấp nhận rủi ro hợp lý thì khó khuyến khích những khám phá mới. Chấp nhận rủi ro không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là chuyển sang phương thức quản trị khoa học, minh bạch hơn và đề cao trách nhiệm giải trình.
Thể chế cũng phải tạo môi trường để mọi thành phần kinh tế phát huy đúng vai trò. Kinh tế nhà nước cần thực sự giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước lớn phải tiên phong kiến tạo những năng lực nền tảng mà thị trường chưa thể hoặc chưa sẵn sàng đầu tư, nhất là hạ tầng chiến lược, năng lượng mới, công nghệ số, công nghiệp nền tảng và những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến năng lực tự chủ quốc gia.
Kinh tế tư nhân, được Đại hội XIV xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần được bảo đảm đầy đủ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng và cơ hội tiếp cận các nguồn lực.
Đưa tri thức, công nghệ và con người vào trung tâm của phát triển
Nếu thể chế là điều kiện mở đường thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người chính là lực lượng trực tiếp tạo nên chất lượng mới của tăng trưởng.
Mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng đạt trên 55% và tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm cho thấy yêu cầu rất cao của quá trình chuyển đổi. Những mục tiêu đó không thể đạt được chỉ bằng mở rộng ứng dụng công nghệ, mà đòi hỏi công nghệ phải đi sâu vào từng ngành, doanh nghiệp, quy trình sản xuất và hoạt động quản trị.
Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; viện nghiên cứu và trường đại học gắn chặt hơn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế; Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đặt hàng và tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ mới. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển phải được coi là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn.
Cùng với những ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và công nghệ quốc phòng lưỡng dụng, cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cả những ngành truyền thống. Nông nghiệp, công nghiệp chế biến, logistics, du lịch, y tế và giáo dục đều có thể tạo ra giá trị gia tăng mới nếu được tổ chức lại trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và mô hình kinh doanh hiện đại.
Nhưng công nghệ tự nó không quyết định thành công. Chủ thể sáng tạo, vận hành và sử dụng công nghệ vẫn là con người. Vì vậy, cuộc chuyển đổi mô hình phát triển, xét đến cùng, cũng là cuộc chuyển đổi về chất lượng con người Việt Nam.
Nguồn nhân lực giai đoạn mới không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn cần năng lực số, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và trách nhiệm công dân. Giáo dục và đào tạo phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, từ đào tạo một lần sang học tập suốt đời, từ chạy theo bằng cấp sang đáp ứng nhu cầu thực của xã hội và thị trường lao động.
Chuyển quyết sách thành năng lực phát triển thực tế
Đổi mới mô hình phát triển là một quá trình lâu dài, nhưng thời cơ không chờ đợi. Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội lớn để các quốc gia đi sau rút ngắn khoảng cách, đồng thời tạo sức ép rất lớn. Nếu không kịp thời hình thành năng lực mới, nguy cơ tụt hậu sẽ không chỉ là về thu nhập mà còn về công nghệ, năng suất và năng lực tự chủ.
Vấn đề quyết định hiện nay không còn chỉ là nhận thức đúng, mà là năng lực biến nhận thức thành thể chế, chính sách, chương trình, dự án và kết quả cụ thể. Mỗi quyết sách cần trả lời rõ: Tháo gỡ điểm nghẽn nào, tạo ra năng lực mới nào, ai chịu trách nhiệm, nguồn lực ở đâu, thời hạn bao lâu và kết quả được đánh giá bằng tiêu chí nào?
Muốn vậy, cần khắc phục tình trạng chủ trương đúng nhưng thể chế hóa chậm, chính sách được ban hành nhưng khó đi vào cuộc sống, nhiệm vụ có nhiều cơ quan tham gia nhưng không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng. Bộ máy sau sắp xếp phải thực sự chuyển từ giảm đầu mối sang nâng cao chất lượng vận hành; từ tư duy quản lý sang quản trị phát triển; từ giải quyết công việc theo quy trình sang kiến tạo kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và đất nước.
Đồng thời, phải huy động và phân bổ hiệu quả mọi nguồn lực xã hội. Nguồn lực trong nhân dân chỉ có thể chuyển thành vốn đầu tư phát triển khi niềm tin được củng cố, quyền tài sản được bảo đảm và thị trường tài chính vận hành công khai, minh bạch, an toàn.
Đổi mới mô hình phát triển không có nghĩa là phủ nhận những thành quả và động lực đã tạo nên sự phát triển của Việt Nam trong những thập niên qua. Đó là sự kế thừa ở một trình độ cao hơn: Làm mới những động lực truyền thống bằng khoa học và công nghệ; kết hợp nguồn lực bên ngoài với nâng cao năng lực nội sinh; gắn sức mạnh của Nhà nước với sức sáng tạo của thị trường và xã hội; chuyển lợi thế tiềm năng thành năng lực phát triển thực tế.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là rất cao và đầy thách thức, nhưng điều quan trọng hơn con số tăng trưởng của một năm hay một nhiệm kỳ là hình thành được năng lực tăng trưởng cao, liên tục và bền vững trong nhiều thập niên. Đó phải là sự tăng trưởng được tạo ra bởi năng suất và sáng tạo; được nâng đỡ bởi thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao; được bảo đảm bởi năng lực tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế và cuối cùng được chuyển hóa thành đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Đổi mới mô hình phát triển, vì thế, không chỉ là nhiệm vụ của lĩnh vực kinh tế. Đó là một cuộc đổi mới sâu sắc về tư duy, thể chế, phương thức quản trị và năng lực hành động quốc gia. Thực hiện thành công cuộc đổi mới này chính là tạo dựng nền tảng vật chất và sức mạnh nội sinh để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự chủ, tự cường, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.







![[Video] Tiền gửi của người dân lần đầu vượt 11 triệu tỷ đồng](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_14_14_55829057/45d6c9738f3866663f29.jpg)



