Đổi mới sáng tạo: Động lực đưa công nghiệp Việt Nam cất cánh

Việt Nam đang trên đường tiến tới mục tiêu năm 2045 trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, ngành công nghiệp, lĩnh vực trụ cột của kinh tế Việt Nam, cần được phát triển dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đây là con đường tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế.

Ngành công nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng hiện đại. Ảnh: C.D

Ngành công nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng hiện đại. Ảnh: C.D

Nội lực yếu, phụ thuộc công nghệ nhập khẩu

Sau 40 năm đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã thoát khỏi trình độ thấp, song các ngành công nghiệp hiện chỉ mới ở trình độ trung bình và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp. Hầu hết các ngành công nghiệp chưa làm chủ công nghệ lõi, dựa nhiều vào công nghệ nhập khẩu.

Cơ cấu công nghiệp đang chuyển dịch theo hướng hiện đại (trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ đạo), song giá trị gia tăng của ngành công nghiệp thấp. Công nghiệp số và công nghiệp xanh mới ở giai đoạn ứng dụng và triển khai, chưa đạt trình độ sáng tạo, dẫn dắt công nghệ.

Năng lực nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ của phần lớn doanh nghiệp trong nước ở mức trung bình, phụ thuộc nhiều vào công nghệ nhập khẩu.

Cùng đó, liên kết công nghiệp với khoa học - công nghệ còn yếu; năng suất lao động trong ngành công nghiệp còn thấp so với các nước phát triển.

Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta hiện đang có nhiều điều kiện thuận lợi song cũng phải đối mặt với không ít thách thức.

Về mặt thuận lợi, trước hết là chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước xác định khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt của phát triển. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhiều chiến lược, nghị quyết, chương trình quốc gia được ban hành theo định hướng này.

Nguồn nhân lực trẻ thích ứng nhanh với công nghệ số và tiếp cận nhanh với công nghệ mới. Ngày càng nhiều chuyên gia công nghệ được đào tạo.

Chuyển đổi số bước đầu đạt kết quả; hạ tầng công nghệ thông tin, internet, viễn thông phát triển nhanh. Một số ngành như công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí chính xác có bước phát triển. Doanh nghiệp từng bước ứng dụng tự động hóa, chuyển đổi số. Đây là nền tảng để tiếp tục phát triển công nghiệp dựa trên công nghệ.

Đặc biệt, nước ta đã hội nhập quốc tế sâu rộng, có độ mở nền kinh tế lớn, với việc tham gia nhiều FTA và nhiều hiệp định thương mại - đầu tư với các đối tác kinh tế. Quá trình thu hút FDI diễn ra mạnh mẽ. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các mức độ khác nhau. Các yếu tố đó hỗ trợ tiếp cận tiêu chuẩn và công nghệ tiên tiến, tạo cơ hội nâng cấp trình độ công nghệ.

Tuy nhiên, thách thức là năng lực khoa học - công nghệ nội sinh còn hạn chế. Trình độ công nghệ nhìn chung thấp; phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Khả năng làm chủ công nghệ và sáng tạo công nghệ mới còn yếu.

Mặt khác, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là nhỏ và vừa; năng lực tài chính hạn chế. Đầu tư cho R&D còn thấp; tâm lý ngại rủi ro, ưa công nghệ sẵn có đã hạn chế khả năng đổi mới công nghệ dài hạn.

Chất lượng nguồn nhân lực thấp, do đó thiếu chuyên gia công nghệ cao, nhân lực nghiên cứu, thiết kế. Kỹ năng đổi mới sáng tạo, quản trị công nghệ còn yếu. Con người chưa theo kịp yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại.

Vấn đề liên kết nghiên cứu - sản xuất - thị trường yếu; kết quả nghiên cứu chậm được thương mại hóa, thiếu cơ chế kết nối hiệu quả doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học. Thị trường khoa học - công nghệ phát triển chưa đồng bộ làm giảm hiệu quả của đầu tư cho khoa học - công nghệ.

Về thể chế, chính sách vẫn còn bất cập; thủ tục đầu tư cho khoa học - công nghệ còn phức tạp. Cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh. Bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa thật sự hiệu quả; chưa tạo được môi trường thuận lợi tối đa cho đổi mới sáng tạo.

Phát triển ngành công nghiệp cần dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Trần Nghị

Phát triển ngành công nghiệp cần dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Trần Nghị

Phát triển công nghiệp hiện đại, tự chủ dựa trên khoa học

Định hướng phát triển ngành công nghiệp được xác định trong Văn kiện trình Đại hội XIV là “Xây dựng và hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia hùng mạnh, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính”. Để triển khai định hướng đó, cần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển ngành công nghiệp.

Đó là nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của ngành công nghiệp trên cơ sở ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm phụ thuộc vào lao động giá rẻ và công nghệ nhập khẩu.

Đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành công nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát triển công nghiệp Việt Nam dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ tổng hợp, bao gồm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, phát triển doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế, mở rộng hợp tác quốc tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển công nghiệp bền vững. Để đạt được các mục tiêu phát triển ngành công nghiệp nêu trên, trong những năm tới cần tập trung nỗ lực vào thực hiện các nội dung sau:

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ khoa học - công nghệ trong công nghiệp. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ số vào sản xuất công nghiệp. Từng bước làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực công nghệ nội sinh. Hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong công nghiệp.

Phát triển các ngành công nghiệp nền tảng tăng năng lực nội sinh như công nghiệp công nghệ số (chip, bán dẫn…), năng lượng (mới, tái tạo, hạt nhân), cơ khí chế tạo dựa trên tự động hóa, vật liệu mới, hóa chất. Thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong sản xuất công nghiệp.

Lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho R&D, đổi mới công nghệ, quy trình, sản phẩm. Tăng cường mối liên kết doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao. Đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ và nhân lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Thu hút, trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước.

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, bao gồm cơ chế khuyến khích đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Thu hút FDI có chọn lọc vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp số, công nghiệp xanh, gắn với chuyển giao công nghệ đồng thời với hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển và đào tạo.

Một nền công nghiệp hiện đại dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh như vậy sẽ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao tính tự chủ, tự cường và vị thế của nền kinh tế Việt Nam, đưa đất nước ta trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 như đã được xác định trong văn kiện của Đảng.

Tiến sĩ Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương)

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/doi-moi-sang-tao-dong-luc-dua-cong-nghiep-viet-nam-cat-canh-731015.html