Đổi mới tín dụng học sinh, sinh viên: Nâng trần hạn mức hay đầu tư vào con người
Bộ Tài chính đề xuất nâng hạn mức vay cho sinh lên lên mức từ 4 triệu lên 8 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, trong bối cảnh học phí đại học công lập bước vào chu kỳ điều chỉnh mới và chi phí sinh hoạt tăng cao, việc chỉ điều chỉnh hạn mức vay cơ học liệu đã đủ để giải quyết tận gốc rễ bài toán tài chính cho người học? Đâu là giải pháp để cân đối ngân sách nhà nước trong trung hạn, vận hành hiệu quả dòng vốn và tránh sự phân mảnh chính sách?
Xung quanh vấn đề này, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Trần Mạnh Huy, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
- Thưa PGS.TS Trần Mạnh Huy, đề xuất nâng mức vay từ 4 triệu lên 8 triệu đồng/tháng sẽ làm tăng đáng kể quy mô dư nợ mà Ngân hàng Chính sách xã hội phải gánh. Từ góc độ tài chính công, đại biểu đánh giá thế nào về khả năng cân đối nguồn vốn cho chính sách này trong trung hạn?
- Trước hết, tôi cho rằng cần tránh một cách tư duy khá cơ học: Nâng mức vay tối đa từ 4 lên 8 triệu đồng không đồng nghĩa với việc dư nợ toàn chương trình sẽ lập tức tăng gấp đôi. Con số 8 triệu đồng là mức trần; mức vay thực tế của từng sinh viên còn phụ thuộc học phí, chi phí sinh hoạt, hoàn cảnh gia đình và quyết định thẩm định của Ngân hàng Chính sách xã hội.

PGS.TS Trần Mạnh Huy, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Ảnh: PV
Theo tôi, việc điều chỉnh là cần thiết và đã chậm so với thực tế. Mức 4 triệu đồng/tháng được xác lập từ năm 2022. Trong khi đó, từ năm học 2026-2027, học phí tại các cơ sở giáo dục đại học công lập được tính toán trong khoảng 17 đến 87,5 triệu đồng/năm; các khảo sát mà Bộ Tài chính sử dụng cũng cho thấy chi phí sinh hoạt cơ bản của sinh viên học xa nhà vào khoảng 3-5 triệu đồng/tháng. Ở nhóm chi phí cao, tổng học phí và sinh hoạt phí có thể lên tới khoảng 13,75 triệu đồng/tháng.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn không phải là khối lượng vốn, mà là lượng hóa được khả năng hấp thụ của ngân sách trong trung hạn.
Đến ngày 31-5-2026, dư nợ chương trình tín dụng học sinh, sinh viên vào khoảng 24.475 tỷ đồng, với hơn 355 nghìn hộ còn dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ khoảng 0,27%. Sau gần 19 năm triển khai, chương trình đã hỗ trợ hơn 4 triệu lượt học sinh, sinh viên. Đây là một nền tảng vận hành tương đối tốt để tiếp tục mở rộng chính sách.
Song, khi nâng hạn mức, Chính phủ cần xây dựng ít nhất ba kịch bản tài chính cho giai đoạn 5 năm tới: Số sinh viên thực sự có nhu cầu vay, mức vay bình quân thực tế thay vì mức trần và khả năng dòng tiền hoàn trả từ các khoản vay cũ tái tạo nguồn vốn ở mức nào. Chính phủ cũng cần hạch toán đầy đủ chi phí cấp vốn, cấp bù lãi suất, chi phí quản lý và dự phòng rủi ro tín dụng.
Nói cách khác, câu hỏi không nên dừng ở việc ngân sách có chịu nổi 8 triệu đồng hay không, mà phải là: Với mỗi đồng nguồn lực công đưa vào tín dụng sinh viên, chúng ta tạo ra được bao nhiêu cơ hội học tập và bao nhiêu vốn nhân lực cho nền kinh tế?
Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa tín dụng và trợ cấp. Vốn tín dụng có khả năng quay vòng, nếu được thiết kế và quản lý tốt, một đồng vốn ban đầu có thể tiếp tục phục vụ nhiều thế hệ người học kế tiếp.
- Hiện có nhiều chương trình tín dụng giáo dục chạy song song, như chương trình chung theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg và chương trình STEM theo Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg. Ở góc nhìn tài chính vĩ mô, sự phân mảnh này có tạo ra chi phí quản lý, chi phí vận hành không cần thiết, hay có logic riêng để tách biệt, thưa ông?
- Tôi cho rằng cần phân biệt rõ giữa phân tầng chính sách và phân mảnh hệ thống - đây là hai việc khác nhau, dù thường bị nhìn nhận như một.
Việc tồn tại nhiều chính sách khác nhau là có logic riêng. Chương trình theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg được thiết kế chủ yếu để bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg lại hướng đến một mục tiêu khác: Học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán, được vay toàn bộ học phí còn phải đóng sau các khoản hỗ trợ khác, cộng thêm tối đa 5 triệu đồng/tháng cho sinh hoạt phí và chi phí học tập.

Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên đã giúp tạo cơ hội học tập cho nhiều bạn trẻ. Ảnh: PV
Một chính sách thiên về công bằng trong tiếp cận giáo dục; chính sách còn lại đồng thời phục vụ mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chiến lược quốc gia. Sự khác biệt về đối tượng, điều kiện và mức hỗ trợ, vì vậy là hợp lý.
Điều tôi không muốn nhìn thấy là mỗi mục tiêu chính sách lại kéo theo một hệ thống hành chính riêng.
Theo tôi, nên là mô hình một hệ thống tín dụng sinh viên, nhiều cửa sổ chính sách: Người học chỉ cần lập một hồ sơ; Nhà nước quản lý một cơ sở dữ liệu; Ngân hàng Chính sách xã hội vận hành một hạ tầng xét duyệt, giải ngân và quản lý khoản vay duy nhất. Trên nền tảng chung đó, có thể mở ra nhiều cửa sổ chính sách khác nhau cho sinh viên khó khăn, cho ngành STEM, cho những lĩnh vực nhân lực đặc biệt thiếu hụt hoặc những nhóm ưu tiên trong từng giai đoạn.
Nói cách khác, chúng ta có thể khác nhau về chính sách, nhưng không cần khác nhau về hệ thống vận hành.
Nếu một sinh viên nhận học bổng ở một nơi, được miễn giảm học phí ở nơi khác, vay tín dụng chung ở chương trình thứ ba và vay ưu đãi ngành nghề ở chương trình thứ tư, trong khi các hệ thống này không "nhìn thấy" nhau, thì Nhà nước sẽ rất khó xác định tổng mức hỗ trợ công thực sự dành cho một người học là bao nhiêu. Đó mới chính là rủi ro của sự phân mảnh, chứ không phải bản thân việc có nhiều chính sách.
Vì vậy, tôi cho rằng lần sửa đổi này nên được nhìn rộng hơn việc nâng hạn mức từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng. Sau gần 20 năm thực hiện Quyết định 157, đây là thời điểm phù hợp để chuyển từ quản lý từng chương trình tín dụng riêng lẻ sang quản trị một hệ sinh thái tài chính giáo dục dựa trên dữ liệu.
- Ông đánh giá mức độ ưu tiên nên dành cho tín dụng sinh viên ra sao so với các công cụ hỗ trợ khác như học bổng, miễn giảm học phí trực tiếp?
- Tôi không cho rằng nên đặt tín dụng, học bổng và miễn giảm học phí vào một cuộc cạnh tranh để chọn một, bỏ hai. Đây là ba công cụ tài chính giải quyết ba bài toán khác nhau.
Với người học thuộc nhóm đặc biệt khó khăn, yếu thế, hoặc những trường hợp mà khả năng hoàn trả trong tương lai rất thấp, học bổng, miễn giảm học phí và hỗ trợ trực tiếp cần đi trước. Một chính sách xã hội đúng nghĩa không nên đẩy một người vốn đã khó khăn bước vào đời lao động với một gánh nợ quá lớn.
Có một nhóm rất rộng nằm ở giữa: Gia đình không đủ nghèo để được hỗ trợ toàn phần, nhưng cũng không đủ khả năng chi trả ngay hàng chục triệu đồng học phí cùng chi phí ăn ở mỗi năm. Với nhóm này, tín dụng sinh viên là công cụ đặc biệt phù hợp, vì bản chất vấn đề ở đây là sự lệch pha dòng tiền: sinh viên cần vốn để đầu tư cho mình ngay hôm nay, trong khi năng lực tạo thu nhập chỉ hình thành sau khi tốt nghiệp.
Tôi đề xuất thiết kế chính sách theo ba tầng. Tầng thứ nhất là học bổng, miễn giảm học phí và hỗ trợ trực tiếp cho nhóm yếu thế nhất.
Tầng thứ hai là tín dụng chính sách với hạn mức đủ lớn, dành cho những người có năng lực học tập nhưng thiếu khả năng tài chính tại thời điểm hiện tại.
Tầng thứ ba là tín dụng ưu đãi có mục tiêu, dành cho những ngành nghề Nhà nước cần khuyến khích, như STEM hoặc các lĩnh vực nhân lực chiến lược khác.
Về dài hạn, nên nghiên cứu một cơ chế trả nợ linh hoạt hơn, gắn chặt hơn với khả năng tạo thu nhập sau khi tốt nghiệp. Khi hạ tầng dữ liệu về người học, việc làm, thu nhập và an sinh xã hội đủ hoàn thiện, hoàn toàn có thể thiết kế một cơ chế để người vay trả nợ khi đã có khả năng tài chính phù hợp, thay vì chỉ quản lý bằng một lịch trả nợ cố định. Nếu làm được như vậy, tín dụng sinh viên sẽ chuyển từ một chính sách cho người nghèo đi học thành một công cụ tài chính phát triển vốn con người quốc gia.
Sau gần hai thập kỷ thực hiện Quyết định 157, điều đáng cân nhắc hơn là liệu đã đến lúc xây dựng một thế hệ chính sách tín dụng sinh viên mới: Thống nhất về hạ tầng vận hành, phân tầng theo đối tượng, liên thông dữ liệu, phối hợp được tín dụng với học bổng và miễn giảm học phí, đồng thời có cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư sau khi người học tốt nghiệp.
Tôi vẫn thường nhìn đầu tư cho con người theo cách tương tự đầu tư cho hạ tầng. Chúng ta sẵn sàng bỏ ra nguồn lực rất lớn để xây một tuyến cao tốc, vì nó tạo ra năng lực phát triển trong vài chục năm. Một kỹ sư, một bác sĩ, một nhà khoa học hay một người thầy được đào tạo bài bản cũng có thể tạo ra giá trị cho đất nước trong suốt ba, bốn thập kỷ.
