Đối ngoại và hội nhập tài chính tạo động lực mới cho tăng trưởng nhanh, bền vững
Tại phiên khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, ngày 1/8 tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn có bài phát biểu tham luận về công tác hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính; thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Ngành Tài chính tiên phong mở rộng không gian phát triển
Phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, nhìn lại hơn 4 thập kỷ đổi mới và hội nhập, có thể thấy, mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn liền với những bước tiến trong hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó ngành Tài chính luôn giữ vai trò tiên phong, từ việc xây dựng khuôn khổ pháp lý đầu tiên để thu hút đầu tư nước ngoài với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, bình thường hóa quan hệ tài chính với các định chế tài chính quốc tế năm 1993, đến việc tham gia ASEAN vào năm 1995 và thực hiện các cam kết hội nhập đầu tiên về thuế quan.
“Ngành Tài chính đã làm đúng chức năng góp phần quan trọng mở rộng không gian phát triển và đưa kinh tế Việt Nam từng bước gắn kết sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới” - Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Ảnh: Đức Thanh
Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của nhiều cơ chế hợp tác tài chính đa phương và khu vực, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đồng thời tham gia 19 hiệp định thương mại tự do (FTA), ký kết 81 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 30 hiệp định hợp tác và hỗ trợ hành chính về hải quan cùng nhiều thỏa thuận hợp tác chuyên ngành tài chính.
Các điều ước và thỏa thuận này đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý thuận lợi, minh bạch và ổn định cho hoạt động thương mại, đầu tư và tài chính quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Chủ trương mở cửa và hội nhập cũng đã đưa đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế trở thành những động lực quan trọng của tăng trưởng, giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 6,5 - 7%/năm trong hơn 3 thập kỷ qua, thuộc nhóm các quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Cùng với tăng trưởng, nền tảng tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô không ngừng được củng cố. Tỷ lệ nợ công đến cuối năm 2026 dự kiến khoảng 35 - 36% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trần cho phép, tạo dư địa quan trọng cho điều hành chính sách tài khóa. Thị trường tài chính phát triển cả về quy mô và chiều sâu, với thị trường cổ phiếu đạt khoảng 82,3% GDP và thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 22,1% GDP, từng bước trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Đồng thời, uy tín và vị thế tài chính của Việt Nam tiếp tục được nâng cao khi FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên mới nổi thứ cấp và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế từng bước nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, đưa Việt Nam tiến gần hơn tới ngưỡng Đầu tư (Investment Grade).
Phát triển thị trường vốn, thu hút FDI chất lượng cao trong giai đoạn mới
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, bối cảnh quốc tế đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cùng xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang định hình lại các dòng chảy đầu tư, thương mại và tài chính quốc tế.
Điều đó đòi hỏi hội nhập quốc tế phải được tiếp cận với tư duy mới, không chỉ nhằm mở rộng thị trường hay thu hút nguồn vốn, mà phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh, chất lượng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế.
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng: hội nhập phải phục vụ mục tiêu phát triển đất nước trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ chiến lược; lấy nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng và đột phá.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Ảnh: Đức Thanh
Trên tinh thần đó, Tư lệnh ngành Tài chính cho biết, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, ngành Tài chính sẽ tập trung triển khai một số định hướng lớn về đối ngoại và hội nhập quốc tế như sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển nhanh và bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Kế hoạch tài chính Quốc gia giai đoạn 2025 - 2030 đã xác định quy mô nguồn lực rất lớn, với tổng chi ngân sách nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, trong đó Kế hoạch đầu tư công trung hạn khoảng 8,22 triệu tỷ đồng.
Quy mô đầu tư này đòi hỏi phải phát huy tối đa mọi nguồn lực của nền kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nhà nước, khu vực tư nhân và các nguồn lực quốc tế để tạo không gian phát triển mới, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn tài chính quốc gia.
Trong bối cảnh đó, dòng vốn nước ngoài giữ vai trò rất quan trọng, không chỉ góp phần bổ sung nguồn lực tài chính, mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản trị và các chuẩn mực quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Vì vậy, bên cạnh việc thu hút có chọn lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác với các chính phủ, các định chế tài chính đa phương và các đối tác phát triển nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn nước ngoài, nhất là nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi và các nguồn vốn quốc tế dài hạn cho các dự án hạ tầng chiến lược, hạ tầng kết nối, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, việc triển khai hiệu quả Quyết định số 441/QĐ-TTg về thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030 sẽ bảo đảm các nguồn vốn này được sử dụng đúng trọng tâm, trọng điểm, phát huy hiệu quả lan tỏa đối với tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công và củng cố nền tảng tài chính quốc gia.
Thứ hai, tiếp tục phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, minh bạch, an toàn, hiệu quả và hội nhập sâu rộng với thị trường tài chính quốc tế, qua đó nâng cao vị thế tài chính quốc gia và năng lực huy động nguồn lực cho phát triển.
Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút dòng vốn toàn cầu ngày càng gay gắt, việc phát triển một thị trường vốn hiện đại, minh bạch và vận hành theo các chuẩn mực quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc thu hút các dòng vốn trung và dài hạn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, tính công khai, minh bạch và kỷ luật thị trường; phát triển cân bằng giữa thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các cấu phần khác của thị trường vốn; đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, định chế tài chính nước ngoài; đồng thời tăng cường hiệu quả giám sát, quản lý rủi ro và từng bước tiệm cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
Trên cơ sở đó, cần phát huy hiệu quả việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp, đồng thời tiếp tục cải thiện các yếu tố nền tảng nhằm nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, qua đó củng cố niềm tin của cộng đồng đầu tư quốc tế, giảm chi phí huy động vốn quốc tế và mở rộng khả năng thu hút các nguồn lực tài chính chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba, đổi mới căn bản tư duy thu hút đầu tư nước ngoài, lấy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu làm trọng tâm.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2026 của Bộ Chính trị đã tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy thu hút đầu tư, từ mục tiêu bổ sung nguồn vốn sang chủ động lựa chọn các đối tác chiến lược có trình độ công nghệ, năng lực quản trị hiện đại và khả năng dẫn dắt các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trọng tâm không chỉ là gia tăng quy mô vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là thúc đẩy chuyển giao tri thức và công nghệ, phát triển năng lực nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.
Hiệu quả của dòng vốn đầu tư từ nước ngoài cần được đánh giá bằng mức độ lan tỏa đối với nền kinh tế Việt Nam, thể hiện qua tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia và khả năng từng bước chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang các khâu có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư, như Quỹ Hỗ trợ đầu tư theo Nghị định số 182/2024/NĐ-CP, nhằm thu hút và giữ chân các nhà đầu tư chiến lược có năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và công nghệ nguồn; qua đó mở rộng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng trong nước và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với hội nhập quốc tế và tiệm cận các chuẩn mực, thông lệ toàn cầu.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngành Tài chính xác định hội nhập quốc tế và đối ngoại về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh và các chuẩn mực tài chính số liên tục được định hình ở quy mô toàn cầu, việc tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, các trung tâm tài chính và các tập đoàn công nghệ hàng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tiếp thu tri thức, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chia sẻ kinh nghiệm quản trị hiện đại.
Đồng thời, cần chủ động tham gia xây dựng, tiếp cận và áp dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về tài chính số, công nghệ tài chính (fintech), dữ liệu và an ninh mạng, qua đó nâng cao khả năng kết nối và tương thích của hệ thống tài chính Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Ngành Tài chính tiếp tục đổi mới toàn diện công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, bước vào giai đoạn phát triển mới, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của ngành Tài chính cần được triển khai với tư duy và tầm nhìn mới, gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia.
Hội nhập không chỉ là kênh mở rộng hợp tác và huy động nguồn lực, mà phải trở thành động lực thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế tiên tiến và tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động toàn cầu.
Với định hướng đó, ngành Tài chính sẽ tiếp tục đổi mới toàn diện công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, chủ động, tích cực và hiệu quả hơn trong hợp tác tài chính quốc tế, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển, nâng cao vị thế tài chính quốc gia và đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, hướng tới hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
“Tôi tin tưởng rằng, với sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, chúng ta sẽ tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại và tài chính, góp phần huy động tối đa các nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước” - Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định./.











