Đơn giản hóa thủ tục xử phạt phải gắn với bảo đảm quyền giải trình
Góp ý dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) tại phiên thảo luận hội trường chiều 4/11, ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) đề nghị chỉ áp dụng thủ tục không lập biên bản khi đủ căn cứ xác định hành vi, chủ thể và không phải xác minh hoặc giải trình thêm. Đồng thời, cần phân hóa thời hiệu, mức phạt phù hợp với từng nhóm hành vi, hoàn thiện cơ chế kiểm soát chứng cứ điện tử.
Phân hóa thời hiệu, mức phạt theo tính chất hành vi
Qua nghiên cứu dự thảo Luật và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, ĐBQH Lương Thị Hoa cho rằng, yêu cầu đặt ra trong lần sửa đổi này là chế tài phải đủ sức răn đe nhưng tương xứng; thủ tục phải đơn giản nhưng không làm giảm quyền giải trình. Các quy định về thời hiệu, chứng cứ điện tử cũng cần đủ cụ thể để áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thi hành Luật, niềm tin của người dân và môi trường hoạt động của doanh nghiệp.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên thảo luận. Ảnh: Khánh Duy
Về thời hiệu xử phạt tại Điều 6, đại biểu nêu rõ, khoản 1 quy định thời hiệu từ một đến ba năm, trong đó một số lĩnh vực như bảo vệ môi trường, chứng khoán, dầu khí, khoáng sản và trật tự, an toàn giao thông đường bộ được áp dụng thời hiệu ba năm. Đồng tình với yêu cầu có đủ thời gian phát hiện, xác minh những hành vi tinh vi, phức tạp, song đại biểu cho rằng việc kéo dài thời hiệu phải có căn cứ tương xứng với đặc điểm từng lĩnh vực, từng nhóm hành vi.
Đơn cử, vi phạm giao thông đường bộ được ghi nhận trực tiếp hoặc qua thiết bị kỹ thuật có thể được phát hiện, xử lý tương đối nhanh. Nếu áp dụng thời hiệu ba năm trên diện rộng thì chưa thật sự phù hợp với nguyên tắc phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, đồng thời có thể kéo dài tình trạng pháp lý bất lợi của người vi phạm.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 2 Điều 6 sử dụng mốc “thời điểm phát hiện hành vi vi phạm” đối với hành vi đang được thực hiện nhưng chưa làm rõ căn cứ xác định, dễ dẫn đến mỗi cơ quan tính thời hiệu theo một thời điểm khác nhau.

ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát, phân loại thời hiệu theo mức độ phức tạp và khả năng phát hiện hành vi; chỉ giữ mức ba năm đối với các lĩnh vực thật sự cần thiết, có đánh giá tác động. Thời điểm phát hiện cần được xác định bằng hồ sơ kiểm tra, biên bản hoặc dữ liệu kỹ thuật có thể kiểm chứng, phân biệt với thời điểm kết luận xác minh.
Đồng thời, cần đồng bộ Điều 6 với khoản 3 Điều 51 về trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trả lại hồ sơ và Điều 52 về chuyển hồ sơ từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để xử phạt hành chính; xác định rõ thời điểm chuyển, nhận hồ sơ và không áp dụng hồi tố bất lợi.
Đối với mức phạt tiền tối đa tại Điều 24, Điều 25, đại biểu cho biết, dự thảo nâng mức phạt tối đa chung từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Khoản 1 Điều 24 còn quy định mức phạt cao hơn ở địa bàn thành phố đối với một số lĩnh vực theo điều kiện luật định.

Các ĐBQH tham dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Theo đại biểu, nâng trần phạt đối với hành vi gây hậu quả nghiêm trọng, mang lại lợi ích bất chính lớn có thể cần thiết. Tuy nhiên, trần phạt cao không đồng nghĩa với hiệu quả quản lý cao nếu mức phạt cụ thể thiếu phân hóa hoặc khó thi hành. Với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, chế tài không tương xứng có thể dẫn đến chậm chấp hành, phát sinh cưỡng chế, ảnh hưởng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong khi đó, hiệu quả xử lý còn phụ thuộc vào việc buộc khôi phục hiện trạng, khắc phục ô nhiễm, chấm dứt hành vi vi phạm hoặc nộp lại lợi ích bất hợp pháp. Vì vậy, không nên xem tăng tiền phạt là giải pháp duy nhất để nâng cao tính răn đe.
Đại biểu đề nghị giữ quy định trần phạt theo lĩnh vực nhưng phải giải trình rõ căn cứ tăng mức phạt, mức độ nguy hiểm, hậu quả, lợi ích thu được từ vi phạm và khả năng thi hành; phân hóa phù hợp giữa hành vi cố ý, vô ý, vi phạm lần đầu và tái phạm. Cùng với đó, cần phát huy các biện pháp khắc phục hậu quả, hình thức xử phạt bổ sung khi phù hợp.
Riêng khoản 5 Điều 24, đại biểu đề nghị làm rõ chủ thể chịu trách nhiệm đối với hành vi do tổ hợp tác hoặc đơn vị phụ thuộc của pháp nhân thực hiện, tránh xử phạt không đúng đối tượng.
Làm rõ điều kiện xử phạt không lập biên bản
Về thủ tục không lập biên bản và kiểm soát chứng cứ điện tử tại Điều 44, Điều 48 và Điều 53, đại biểu đánh giá việc cho phép xử phạt không lập biên bản đối với hành vi phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, đồng thời ghi nhận quyền yêu cầu cung cấp kết quả thu thập, dữ liệu điện tử về hành vi vi phạm là hướng cải cách cần thiết, phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Tuy nhiên, có hình ảnh hoặc dữ liệu điện tử không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc đã xác định đầy đủ chủ thể, diễn biến hành vi và các tình tiết liên quan. Do đó, đơn giản hóa thủ tục phải đi đôi với bảo đảm quyền được biết, kiểm tra chứng cứ và giải trình.

Các ĐBQH tham dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Đối với khoản 4 Điều 44, dự thảo quy định trường hợp chưa đủ căn cứ ra quyết định hoặc thuộc diện giải trình thì không phải lập biên bản nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục tại Điều 47, Điều 48. Đại biểu đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa lập biên bản, xác minh và giải trình, bởi chưa đủ căn cứ ra quyết định không có nghĩa đương nhiên được bỏ qua biên bản đối với vụ việc thuộc diện phải lập biên bản. Trường hợp một vụ việc có cả hành vi phải lập và không phải lập biên bản cũng cần có nguyên tắc xử lý thống nhất.
Theo đó, đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 4 Điều 44 theo hướng chỉ áp dụng thủ tục không lập biên bản khi đã đủ căn cứ xác định hành vi, chủ thể và không phải xác minh hoặc giải trình thêm. Đối với vụ việc có hành vi thuộc diện phải lập biên bản thì áp dụng thủ tục có lập biên bản.
Dự thảo đã quy định về thu thập, bảo toàn dữ liệu điện tử tại Điều 48 và yêu cầu tiêu chuẩn, kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị tại điểm d khoản 2 Điều 53. Để hoàn thiện cơ chế kiểm soát chứng cứ điện tử, đại biểu đề nghị bổ sung cách kiểm tra tính toàn vẹn dữ liệu, công khai kết quả kiểm định khi có yêu cầu, thời hạn cung cấp chứng cứ và cơ chế giải quyết phản bác.
