Đón gió vươn cao (Bài 1): Anh hùng trên vùng đất ngọt
Hành trình 40 năm đổi mới của đất nước ta đã trải qua năm tháng 'dò đường' đến xác định quan niệm đúng đắn và có bước đi thích hợp. Trong quá trình đổi mới vừa thách thức, vừa cam go ấy, những quan điểm, chủ trương, chính sách, thể chế về phát triển KTTN của Đảng ta ngày càng được hoàn thiện. Những câu chuyện thành công từ các điển hình KTTN trên quê Thanh thêm một lần nữa khẳng định: ở đâu có đột phá, ở đó có mở đường và đổi mới. KTTN đã và đang thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của KTTN, dưới đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quản lý của Nhà nước càng thể hiện đúng bản chất xã hội chủ nghĩa vì con người, cho con người.

Anh hùng Lao động Lê Văn Tam giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao với bạn bè, chuyên gia.
Lời hứa 3 năm vực dậy Nhà máy Đường Lam Sơn
Những ngày cuối tháng 10 năm 1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII được tiến hành. Khẩu hiệu hành động của đại hội là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và ý chí cách mạng tiến công, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, tiếp cận khoa học hiện đại, thực hiện cơ chế quản lý mới, sáng tạo cách làm, đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”. Lúc ấy, Thanh Hóa xác định: từ lương thực, xuất khẩu, sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên.
Năm tháng ấy, ông Lê Văn Tam đang là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp đầy hăm hở và trách nhiệm. Dẫu là người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp và vùng nguyên liệu mía đường, song trước quyết định của tỉnh và Bộ phân công lên làm Giám đốc Nhà máy Đường Lam Sơn, ông vẫn có nhiều tâm tư. Ông nhớ lại: “Khi nhận nhiệm vụ tại Nhà máy Đường Lam Sơn, tôi chỉ có thời hạn 3 năm để giải quyết khó khăn. Nếu sau 3 năm chưa vực dậy được nhà máy, tôi sẽ chịu trách nhiệm và nhận kỷ luật với Đảng”.
Ông Lê Văn Tam đã gọi giai đoạn 1981-1986 ở Nhà máy Đường Lam Sơn là giai đoạn “đắp chiếu” và cú “lội ngược dòng”. Vừa mới được đầu tư xây dựng từ năm 1980 nhưng đến năm 1986 là nhà máy không chạy được. Đoàn chuyên gia của Pháp lần lượt bỏ về. Khó khăn lớn nhất là không có nguyên liệu, có thể xem như nhà máy ngừng hoạt động từ năm 1984 đến năm 1986. Khi ấy, Bộ Nông nghiệp vào bàn với tỉnh Thanh Hóa là bố trí cán bộ lên cứu cả vùng mía và vực dậy nhà máy. “Nghe đâu còn có quan điểm là định tháo dỡ nhà máy đem vào các tỉnh miền trong”. Ông Tam nói.
Giữa một vùng hoang vu lau lách lúc ấy nhiều người còn bán tín bán nghi, bảo ông Tam biết gì về công nghiệp mà làm. Ông Tam đã nhận nhiệm vụ với niềm tin:“ Chỉ cần mình lo cho dân đủ ăn, chân thành với dân, thì dân sẽ không bao giờ phụ nhà máy”.
Người dân đang làm cây sắn, cây dong riềng và cây màu khác không dễ gì bảo họ tay không trồng mía. Thay vì ngồi chờ chỉ tiêu và phân công, ông Tam đã chủ động báo cáo với cấp trên đề xuất đưa cán bộ xuống. Đó là những năm tháng “không một ngày nào ngồi ở văn phòng” mà cùng ăn cùng ở và cùng làm với dân. Ông cũng thực hiện chính sách chưa có trong tiền lệ: ứng trước vốn, giống, phân bón cho nông dân.
Năm 1988, khắc phục các mặt hạn chế của Khoán 100, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 10 ngày 5/4/1988 về đổi mới kinh tế nông nghiệp. Ngày 8/4/1988, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Chỉ thị số 15 về tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán đến hộ, nhóm hộ trong các HTX nông, lâm, ngư. Đón bắt đường lối này, bà con nông dân vùng nguyên liệu Lam Sơn đã được cán bộ của nhà máy động viên, hỗ trợ giống, vốn để yên tâm trồng mía.
"Đó là những năm tháng tôi không bao giờ ngồi ở văn phòng. Ngày đêm cùng với anh em nhà máy thống kê ruộng đất, định sản lượng trên từng khu đất khoán. Nông dân nhờ đó mà phấn khởi trồng mía”.
Một thời gian dài, nhà máy vận hành theo cơ chế cũ, ách tắc thiếu nguyên liệu, cán bộ cũ trì trệ thiếu tư duy đổi mới. “ Không thể trông chờ, ỷ lại, nguyên liệu là mạch máu, là sự sống. Giống mía chính là yếu tố quyết định của mạch máu ấy”. Nghĩ vậy, ông Tam cùng cán bộ của nhà máy vào Nam ra Bắc để tìm mua, cũng như tập huấn thêm kiến thức ở các viện, trung tâm nông nghiệp của cả nước để khắc phục cho được việc thiếu giống mía. Đó cũng là nguồn cơn để ông ấp ủ hiện thực hóa trung tâm nuôi cấy mô và dần tiến tới trung tâm nông nghiệp công nghệ cao tại Công ty Mía đường Lam Sơn ở giai đoạn sau này.
Và chỉ chưa đến 3 năm sau, những mẻ đường đầu tiên đã xuất hiện tại nhà máy trong niềm vui khôn xiết của tất cả mọi người. Đúng như ông Tam đã nhận định: chỉ khi gắn chặt nhà máy với nồi cơm của người trồng mía thì nông dân mới không bỏ cây mía. Nhà máy Đường Lam Sơn không bị phá sản mà đã hồi sinh trở thành một công ty cổ phần dưới sự chèo lái của vị thuyền trưởng Lê Văn Tam - hình mẫu thành công cho mô hình liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông.
Hình mẫu nông nghiệp bền vững trên vùng đất Lam Sơn
Ông Lê Văn Tam chia sẻ: nếu 10 năm đầu là chuyện giữ cho người dân không bỏ cây mía, hạt đường thì những năm sau chứng kiến sự thăng trầm của ngành mía đường cả nước. Tại Thanh Hóa, giai đoạn 1996-2000 đã được tỉnh xác định phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Khi ấy, ông Trịnh Trọng Quyền là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy. Ông Quyền nhớ lại: Ngày 6/12/1999, Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển Công ty Đường Lam Sơn thành Công ty CP Mía đường Lam Sơn (LASUCO) từ ngày 1/1/2000, vốn điều lệ lúc đó 186 tỷ đồng. Xuất phát từ yêu cầu phòng chống rủi ro, mở rộng sản xuất, cán bộ, công nhân Công ty Đường Lam Sơn và nông dân trồng mía nguyên liệu của công ty thành lập Hiệp hội Mía đường Lam Sơn.
Đây là mô hình hợp tác kiểu mới, bình đẳng, cùng có lợi, giữa người trồng mía, chế biến, dịch vụ với ngân hàng trên một địa bàn rộng lớn gồm 9 huyện khi đó góp phần thúc đẩy CNH, HĐH vùng nguyên liệu. Ông Tam nhớ lại: Đặc biệt nông dân trồng mía cũng được mua cổ phần (22,5%). “Lần đầu tiên ở nước ta người nông dân tham gia làm chủ doanh nghiệp. Năng suất thu gom vận chuyển nguyên liệu từ cánh đồng mía về nhà máy tăng gấp 3 - 4 lần mỗi ngày. Có hộ gia đình, vợ chong đèn, mang lồng cơm cho chồng ăn, cả nhà bốc nguyên liệu từ ruộng từ tờ mờ sáng”.
Và điều quan trọng hơn, những lúc khó khăn nhất của công ty luôn có sự đồng hành và gắn chặt quản lý từ phía Nhà nước. Nhớ lại vụ ép 1999-2000, mặc dù giá mía nguyên liệu giảm thấp nhưng tỉnh Thanh Hóa đã chủ động tháo gỡ nên vùng mía nguyên liệu ổn định, sản lượng tăng 1,6%. Đến năm 2000, vùng nguyên liệu mía của tỉnh đạt 29.500ha.
Như vậy, nếu tính từ năm đầu đổi mới 1986, Thanh Hóa xác định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII là tập trung sức mạnh tổng hợp khai thác tiềm năng cả 4 vùng kinh tế, thì đến những năm 2000, đã hình thành các vùng kinh tế động lực, trong đó có Lam Sơn được đầu tư mở rộng. Đây cũng là thời kỳ đầu tư xây dựng nhà máy đường số 2 Lam Sơn.
Ông Tam nhớ lại: giai đoạn 1998-2005 là thời kỳ Thanh Hóa chỉ đạo sắp xếp đổi mới và cổ phần hóa hệ thống doanh nghiệp Nhà nước do tỉnh quản lý cho phù hợp với cơ chế mới. Đây cũng là thời kỳ thể hiện rõ, tỉnh đặc biệt quan tâm thúc đẩy các thành phần kinh tế hình thành, phát triển kinh doanh. Khi ấy Nông trường Sao Vàng liên doanh với Công ty CP Mía đường Lam Sơn thành Công ty TNHH 2 thành viên Lam Sơn - Sao Vàng. Đây cũng là thời kỳ ở Thanh Hóa: Kinh tế vùng đã được đầu tư khoa học công nghệ, tăng cường cơ sở vật chất tạo ra bước nhảy vọt về chất. Tại công ty do ông Tam làm chủ đã xây dựng nhà máy đường số 2 Lam Sơn để tiếp tục khai thác hết nguyên liệu vùng trồng ngày một tăng cao.
Nhớ lại những dấu ấn, thành tựu đưa công nghệ về tận bờ ruộng, thực hiện thành công chương trình làm mới cây mía, hạt đường, thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao của công ty, Anh hùng Lao động Lê Văn Tam khẳng định: nếu ngày ấy, không có tư duy đổi mới kinh tế, không có các chính sách cởi trói, bung mở để giao đất và giao quyền cho nông dân, xác lập kinh tế hộ, thì chắc chắn không thể có được Công ty CP Mía đường Lam Sơn ngày hôm nay.
Mọi người thường nhìn vào con số đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, doanh thu thuần hơn 2.000 tỷ đồng nhưng với ông hơn 40 năm gắn bó với vùng mía đường Lam Sơn - miền núi phía Tây Thanh Hóa thành tựu lớn nhất đó chính là cuộc cách mạng về tư duy. Tại đây, người nông dân từ tư duy làm thuê, sản xuất nhỏ lẻ đã trở thành những đối tác chiến lược của công ty. Thành công của Lam Sơn đã tạo ra thế kiềng 3 chân vững chãi, là công nghiệp hiện đại - nông nghiệp tiên tiến - nông dân trí thức. Lam Sơn - vùng nghèo khó hôm qua với gần 80% hộ nghèo thì hôm nay con số ấy chưa đầy 10%. Lam Sơn hôm nay đã thành trung tâm sản xuất hiện đại, với mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với nhà máy chế biến, tạo việc làm cho chục nghìn hộ nông dân và hình thành liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông.
40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế tư nhân (KTTN) đã đi qua các chặng đường, dấu mốc phát triển gắn với những bước chuyển mạnh mẽ về quan điểm, thể chế, hành động của Đảng và Nhà nước. Khi thể chế đã kiến tạo “luật chơi”, đảm bảo tính minh bạch, công bằng và sòng phẳng thì yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp (DN) chính là khả năng nắm bắt cơ hội, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và sự chủ động trong tổ chức thực hiện. Trong “làn gió mới”, KTTN chung sức đồng lòng dựng xây đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
90 tuổi, rời xa vị trí lãnh đạo công ty gần 6 năm, Anh hùng Lao động Lê Văn Tam chỉ có một niềm luyến tiếc: “Đời người hữu hạn mà ước mơ cho nông nghiệp Việt Nam thì vô hạn. Đảng giao cho tôi vực dậy nhà máy, đánh thức tiềm năng của vùng đất và giúp dân làm giàu. Tôi phải làm được để không phụ sự tin tưởng của Đảng và sự tin yêu của người nông dân quê mình”.
Đúng là, không có kinh nghiệm của hôm qua thì làm sao tạo nên điểm tựa cho tương lai. Sức sống của một mô hình kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao từ ngày đầu đổi mới trên quê Thanh có thể khiến một học giả, chuyên gia ở nước tiên tiến trong khu vực trầm trồ. Sự thán phục có thể đến từ nhiều nguyên do, song chắc chắn có một công thức luôn đúng: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta với cách thức và bước đi đổi mới thích hợp; vai trò vào cuộc của quản lý Nhà nước và sự năng động dám nghĩ, dám làm đã đánh thức, khai phóng tiềm năng, sự chủ động trong từng người dân. “Chỉ khi chúng ta nắm chặt tay nhau trong một mối liên kết thủy chung, bền vững thì không sóng gió nào có thể xô ngã”. Ông Lê Văn Tam đã thấm thía nói vậy bằng cả một đời trải nghiệm và dấn thân của mình!
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/don-gio-vuon-cao-bai-1-anh-hung-tren-vung-dat-ngot-275681.htm











