Đồng bằng sông Cửu Long: Chủ động thích ứng để giữ sinh kế
Xâm nhập mặn, sạt lở và thời tiết cực đoan gây sức ép lên Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi chuyển đổi sản xuất, quản lý nước và đa dạng sinh kế.
Áp lực lên đất, nước và sinh kế
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, gắn với sinh kế của hàng triệu người dân. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và sạt lở đang ảnh hưởng đến mùa vụ, thu nhập và khả năng ổn định sản xuất.

Toàn cảnh Đồng bằng sông Cửu Long và hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Ngân hàng Thế giới công bố năm 2021, khu vực mất khoảng 500ha đất mỗi năm do sạt lở, theo ước tính của cơ quan quản lý nông nghiệp Việt Nam được dẫn trong bài viết. Tại một số nơi, độ mặn có thể đạt 4g/l. Đây là số liệu đã công bố từ trước; mức độ tác động thay đổi theo địa phương và thời điểm.
Sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên có thể làm tăng rủi ro. Thích ứng không chỉ là khắc phục hậu quả sau thiên tai mà cần chủ động nhận diện nguy cơ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và điều chỉnh sản xuất theo điều kiện sinh thái. Đây cũng là định hướng trong Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chuyển đổi sản xuất, đa dạng hóa sinh kế
Chuyển đổi mô hình sản xuất giúp người dân giảm phụ thuộc vào một nguồn thu nhập. Tùy đất đai, nguồn nước và đặc điểm sinh thái, địa phương có thể lựa chọn mô hình canh tác phù hợp, kết hợp nông nghiệp với nuôi trồng thủy sản hoặc phát triển thêm hoạt động tạo thu nhập.
Thích ứng không nhất thiết bắt đầu từ mô hình đầu tư lớn. Điều chỉnh lịch thời vụ, chọn giống phù hợp, tiết kiệm nước tưới, cải thiện kỹ thuật canh tác và giảm lãng phí đầu vào cũng góp phần hạn chế thiệt hại, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Ruộng lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long và người dân canh tác.
Theo thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố ngày 23/6/2025 về dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long (WB9), giai đoạn 2016-2024, dự án hỗ trợ gần 2 triệu người, trong đó phụ nữ chiếm 49%; ghi nhận 54 loại hình sinh kế và gần 900 mô hình. Kết quả cho thấy chuyển đổi cần đi cùng kiến thức, kỹ thuật và cách tổ chức sản xuất phù hợp.
Để duy trì hiệu quả, người dân cần thông tin kịp thời, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường. Cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng cần phối hợp lựa chọn mô hình phù hợp, tránh chuyển đổi khi chưa đánh giá đầy đủ điều kiện đất, nước và đầu ra.
Cùng với thay đổi sản xuất, những thói quen xanh cũng có ý nghĩa thiết thực: tiết kiệm nước, hạn chế chất thải, sử dụng vật tư có trách nhiệm và bảo vệ hệ sinh thái. Những hành động này góp phần gìn giữ nguồn lực phục vụ sinh kế.
Cần sự phối hợp từ cộng đồng đến chính sách
Khả năng thích ứng không thể chỉ dựa vào từng hộ dân. Xâm nhập mặn, sạt lở và biến động nguồn nước liên quan đến nhiều địa phương, đòi hỏi quản lý tài nguyên, quy hoạch sản xuất và hỗ trợ sinh kế đồng bộ. Chính sách cần gắn với nhu cầu thực tế, giúp người dân chủ động trước rủi ro.
Truyền thông có thể nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động cộng đồng. Những mô hình tiết kiệm tài nguyên, cách làm hiệu quả trong bảo vệ môi trường và sáng kiến thích ứng có thể lan tỏa qua báo chí, nền tảng số.
Thông tin gần gũi giúp người dân thay đổi thói quen, chia sẻ kinh nghiệm và bảo vệ môi trường sống. Môi trường xanh, văn hóa xanh và hành động xanh gắn liền với mục tiêu giữ sinh kế bền vững.

Sạt lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Báo cáo Ngân hàng Thế giới công bố ngày 17/12/2025, gần 1,7 triệu người đã rời Đồng bằng sông Cửu Long trong một thập kỷ. Di cư chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường, không thể quy hoàn toàn cho biến đổi khí hậu. Con số này cho thấy cần quan tâm đến việc làm, chất lượng sống và sinh kế tại địa phương.
Thích ứng là quá trình lâu dài, thể hiện qua thiệt hại giảm, thu nhập ổn định hơn, tài nguyên được sử dụng hiệu quả và cộng đồng ứng phó tốt hơn. Khi chính sách, tri thức, hành động xanh và sự tham gia của người dân được kết nối, Đồng bằng sông Cửu Long có thêm nền tảng để bảo vệ môi trường, giữ sinh kế và phát triển bền vững.


