Đồng chí Phùng Chí Kiên - Người cộng sản mẫu mực, nhà chính trị, quân sự song toàn
Ngày 28/1/1941, sau 30 bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng 5 đồng chí: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đào Thế An, Hoàng Văn Lộc và Đặng Văn Cáp vượt qua mốc biên giới Việt - Trung số 108, trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Nhìn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, các thế hệ người Việt Nam càng tự hào về truyền thống anh hùng, sự hy sinh xương máu của các bậc tiền bối, trong đó, có đồng chí Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, nhà cách mạng tiền bối song toàn.
Đồng chí Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ (sinh năm 1901) tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (sau là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) nay là xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nông dân, tại vùng quê giàu truyền thống cách mạng, dù thông minh và ham học nhưng do hoàn cảnh khó khăn, ông phải nghỉ học sớm để làm ruộng giúp gia đình. Lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, ông sớm mang trong mình hoài bão cứu nước, cứu dân.
Năm 1925, Nguyễn Vĩ ra làm thuê ở ga Yên Lý, Diễn Châu. Tại đây, Nguyễn Vĩ bắt đầu tiếp xúc với các tư tưởng tiến bộ, biết những tin tức về thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga về phong trào cộng sản quốc tế, về những hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu. Nhờ sự dìu dắt của cán bộ cách mạng, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.
Tháng 10/1926, Nguyễn Vĩ được tổ chức cử đến Quảng Châu, dự lớp huấn luyện chính trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Nguyễn Vĩ đổi tên là Phùng Chí Kiên, sau khóa học, Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm sau, do Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa, Phùng Chí Kiên cùng cán bộ cách mạng Việt Nam đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại hành động phản cách mạng của bọn quân phiệt.
Tháng 12/1927, khi khởi nghĩa ở Quảng Châu nổ ra, Phùng Chí Kiên chỉ huy một đơn vị của đội quân cộng sản. Ngày 30/12/1928, đồng chí Phùng Chí Kiên bị quân Tưởng bắt và giam trong nhà tù Quảng Châu. Sau 9 tháng giam cầm, Phùng Chí Kiên được trả tự do và trở lại Trường Quân sự Hoàng Phố. Tháng 12/1929, Phùng Chí Kiên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, gia nhập Hồng quân và thời gian sau được tín nhiệm và được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4, quân đoàn 2, Hồng quân Đông Giang. Tháng 12/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương gọi Phùng Chí Kiên về Hồng Kông. Tại đây, đồng chí được gặp lại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được truyền đạt những chủ trương, đường lối mới của Đảng sau Hội nghị hợp nhất. Những ngày ở Hồng Kông, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tháng 1/1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi Phùng Chí Kiên sang học trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1934, đồng chí Phùng Chí Kiên về Ma Cao, Trung Quốc và tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Tháng 3/1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao, Trung Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định vào Ban Thường vụ của Đảng.
Giữa năm 1937, đồng chí Phùng Chí Kiên được cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Do yêu cầu mới của cách mạng, cuối năm 1937, đồng chí quay lại Hồng Kông, Trung Quốc lãnh đạo Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng thay cho đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động, cuối tháng 10/1938 đồng chí bị bắt. Sau khi được trả tự do và bị trục xuất khỏi Hồng Kông, đồng chí Phùng Chí Kiên đến tỉnh Quảng Đông, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Giữa năm 1939, Phùng Chí Kiên có mặt tại Côn Minh, sẵn sàng cho những công việc mới của Đảng, của cách mạng trong hoàn cảnh mới. Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, Trung Quốc, Phùng Chí Kiên được làm việc gần Người và nhiều lần đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi thăm và khảo sát những cơ sở cách mạng dọc tuyến đường sắt Côn Minh - Hà Khẩu.
Đến cuối năm 1940, Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Đặng Văn Cáp đến Cao Bằng kiểm tra tình hình phong trào cách mạng, khảo sát thực địa; ra nước ngoài báo cáo với Bác và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo tình hình quốc tế, tình hình cách mạng trong nước, phong trào cách mạng tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là địa thế của núi rừng Pác Bó, với tầm nhìn xuất chúng của một vị lãnh tụ thiên tài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận định “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc với Quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”. Từ nhận định quan trọng này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn Pác Bó - Cao Bằng là nơi về nước đầu tiên để xây dựng căn cứ địa, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901 - 1941).
Trước khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở Lớp huấn luyện Chính trị cho 40 thanh niên yêu nước của Cao Bằng, tại làng Nặm Quang (Tịnh Tây, Trung Quốc), đồng chí Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí Vũ Anh, Cao Hồng Lãnh trong Ban lãnh đạo lớp huấn luyện.
Ngày 28/1/1941 (đúng ngày mùng 2 Tết năm Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và năm đồng chí cán bộ cách mạng: đồng chí Phùng Chí Kiên, đồng chí Lê Quảng Ba, đồng chí Đào Thế An, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp đã trèo đèo lội suối, vượt qua Mốc 108 trở về Tổ quốc, ở tại Pác Bó, Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên hoạt động bên cạnh Người và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ địa. Đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao cho soạn thảo các bài viết về “Con đường giải phóng dân tộc”, trong đó có nội dung về đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng, chiến thuật chiến tranh du kích, đồng thời tổ chức các lớp huấn luyện quân sự cho các địa phương ở Cao Bằng, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được phân công phụ trách công tác quân sự Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Đội Cứu quốc quân.
Tháng 9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, gây tiếng vang lớn trong cả nước, làm thực dân Pháp ra sức tìm cách đối phó. Cuối tháng 6/1941, chúng mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng của ta, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu, phá một số trận càn lớn của Pháp. Do chênh lệch lực lượng và vũ khí, Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn đối phương, còn hai tiểu đội phá vòng vây, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.
Ngày 19/8/1941, cánh quân do đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri (Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ) chỉ huy qua Pò Kép (châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị địch phục kích, nhưng đơn vị thoát được. Ngày 21/8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức trên đường đi Cao Bằng. Mặc dù bị thương nặng, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, đồng chí sa vào tay giặc. Ngày 22/8/1941, đồng chí bị địch chặt đầu đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân địa phương.
Với những cống hiến trong quá trình hoạt động cách mạng và sự anh dũng hy sinh của đồng chí, tháng 11/2003, Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên là nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa I), cán bộ lãnh đạo quân đội, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu. Cuộc đời, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một gương sáng mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trên nhiều phương diện.
Đồng chí Phùng Chí Kiên đã dành trọn cuộc đời cho cách mạng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Đảng và nhân dân; những cống hiến của đồng chí Phùng Chí Kiên mãi là dấu mốc quan trọng, góp phần vào những trang sử vẻ vang của dân tộc; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam học tập, noi theo, góp phần xây dựng, bảo vệ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam.












