Động lực để nền kinh tế bứt phá, tăng trưởng 2 con số

Kinh tế năm 2025 khép lại với thành công từ những nỗ lực vượt trội: GDP dự kiến tăng trên 8%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao…

TS Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhận định: Sự thắng lợi của năm đầu tiên trong kỷ nguyên vươn mình không chỉ là nền tảng, là trụ đỡ, mà còn là động lực để tạo nên sự bứt phá trong năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

TS Nguyễn Sĩ Dũng.

TS Nguyễn Sĩ Dũng.

PV: Năm 2026 mở ra một cánh cửa mới đầy khát vọng cho kỷ nguyên vươn mình, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới nhóm nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Mục tiêu này, có khả thi không, thưa ông?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026–2030 là rất thách thức, nhưng không phải là bất khả thi, nếu chúng ta nhìn nó như một chiến lược phát triển có điều kiện, chứ không phải một khẩu hiệu tăng trưởng đơn thuần.

Thứ nhất, nền tảng của nền kinh tế đã khác trước. Kết quả của năm 2025 cho thấy Việt Nam đã tích lũy được ba yếu tố quan trọng: Quy mô đủ lớn, độ mở cao và sức chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài. Khi nền kinh tế đã đạt quy mô hơn 500 tỷ USD, mỗi điểm phần trăm tăng trưởng bổ sung không chỉ đến từ mở rộng số lượng mà chủ yếu từ nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Thứ hai, động lực tăng trưởng đang được tái cấu trúc. Việt Nam không còn dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên, mà đang chuyển sang các động lực mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và khu vực kinh tế tư nhân năng động hơn. Nếu cải cách thể chế được thực hiện quyết liệt, những động lực này có thể tạo ra “gia tốc” tăng trưởng mới.

Thứ ba, cần nhấn mạnh rằng tăng trưởng 2 con số chỉ khả thi khi đi kèm kỷ cương và quản trị tốt. Đó là tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới và niềm tin thị trường, chứ không phải tăng trưởng nóng hay đánh đổi ổn định vĩ mô.

Nói cách khác, mục tiêu này khả thi nếu chúng ta kiên định cải cách, giữ vững ổn định và giải phóng được các nguồn lực đang bị kìm hãm. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà là bài toán của tầm nhìn và năng lực thực thi quốc gia.

PV: Nhiều ý kiến cho rằng, việc tăng trưởng 2 con số sẽ định vị Việt Nam trong bối cảnh mới. Vậy theo ông, đâu là động lực cho sự tăng trưởng này?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, tăng trưởng 2 con số không thể đến từ một động lực đơn lẻ, mà là kết quả của một hệ động lực mới được kích hoạt đồng thời và vận hành hiệu quả.

Trước hết, động lực quan trọng nhất nằm ở cải cách thể chế. Khi thể chế được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, dễ dự đoán và lấy hiệu quả làm thước đo, chi phí tuân thủ giảm xuống, niềm tin thị trường được củng cố, các nguồn lực trong xã hội sẽ tự động “chảy” vào sản xuất - kinh doanh. Trong bối cảnh hiện nay, cải cách thể chế chính là “đòn bẩy của mọi đòn bẩy”.

Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân phải trở thành động cơ tăng trưởng chủ lực. Khi doanh nghiệp tư nhân được bảo vệ tốt hơn về quyền tài sản, được tiếp cận công bằng các nguồn lực và được khuyến khích đổi mới sáng tạo, sức bật của khu vực này sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc chỉ dựa vào đầu tư công hay FDI như trước đây.

Thứ ba, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng. Đây là con đường ngắn nhất để nâng cao năng suất lao động, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn mà không cần mở rộng quá mức về vốn hay lao động.

Cuối cùng, động lực con người và năng lực quản trị quốc gia có ý nghĩa then chốt. Một nền công vụ chuyên nghiệp, dám chịu trách nhiệm; một xã hội khuyến khích học tập suốt đời và tinh thần khởi nghiệp sẽ tạo nên sức mạnh nội sinh bền vững.

Nói gọn lại, tăng trưởng 2 con số chỉ bền vững khi được dẫn dắt bởi thể chế tốt, doanh nghiệp mạnh, công nghệ cao và con người chất lượng. Đây chính là cách Việt Nam định vị mình trong bối cảnh phát triển mới.

PV: Nói về động lực tăng trưởng, thường sẽ có động lực truyền thống và động lực mới, dựa trên nền tảng động lực thể chế, công nghệ, hạ tầng và con người. Ông đánh giá những động lực này của nền kinh thế như thế nào?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, điểm khác biệt lớn nhất của Việt Nam hiện nay là các động lực tăng trưởng đang đồng thời chuyển pha, từ mô hình dựa nhiều vào động lực truyền thống sang mô hình kết hợp hài hòa với các động lực mới, trên một nền tảng rộng hơn và bền vững hơn.

Về động lực truyền thống, đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước vẫn giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, những động lực này không còn tăng trưởng theo chiều rộng như trước, mà đang chịu áp lực lớn về hiệu quả, chi phí và khả năng thích ứng với biến động bên ngoài. Điều đó đòi hỏi phải nâng cấp chuỗi giá trị, mở rộng thị trường chất lượng cao và kích thích tiêu dùng bằng thu nhập thực, chứ không phải bằng nới lỏng thiếu kiểm soát.

Ở chiều ngược lại, các động lực mới đang dần hình thành rõ nét hơn. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh đã bắt đầu đóng góp thực chất vào tăng trưởng, dù tỷ trọng còn khiêm tốn. Đây là dư địa rất lớn để tạo ra bước nhảy vọt về năng suất trong giai đoạn tới.

Quan trọng hơn cả là nền tảng của các động lực tăng trưởng. Thể chế đang được cải cách theo hướng kiến tạo và trao quyền nhiều hơn cho thị trường, hạ tầng chiến lược - đặc biệt là hạ tầng giao thông và hạ tầng số, được đầu tư mạnh mẽ, còn con người tiếp tục là lợi thế cạnh tranh dài hạn nếu được đào tạo và sử dụng đúng cách.

Có thể nói, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội hiếm có để tái cấu trúc toàn bộ hệ động lực tăng trưởng. Nếu các nền tảng này được kết nối đồng bộ và vận hành hiệu quả, tăng trưởng cao sẽ không chỉ là mục tiêu, mà trở thành kết quả tất yếu của quá trình phát triển.

Tăng trưởng 2 con số sẽ định vị Việt Nam trong bối cảnh mới.

Tăng trưởng 2 con số sẽ định vị Việt Nam trong bối cảnh mới.

PV: Dường như không khí phấn khởi đang rộn ràng khắp nơi, nên có vẻ những khó khăn, nếu có, cũng sẽ bị “cuốn phăng” trong nhịp tiến của nền kinh tế?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi cho rằng không khí phấn khởi là rất cần thiết, bởi niềm tin xã hội chính là một dạng “vốn mềm” quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, niềm tin không thể thay thế cho nhận diện đúng và xử lý thực chất những khó khăn đang hiện hữu.

Thực tế cho thấy, khi mục tiêu tăng trưởng được nâng cao, những điểm nghẽn cũ không tự nhiên biến mất, mà thậm chí còn bộc lộ rõ hơn. Đó là các rào cản thể chế chưa được tháo gỡ triệt để, sự thiếu đồng bộ trong hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu mới, và đặc biệt là năng lực thực thi chính sách chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành.

Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều bất định: Kinh tế thế giới phục hồi không đồng đều, cạnh tranh chiến lược gia tăng, xu hướng bảo hộ và các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn an ninh mới ngày càng khắt khe. Những yếu tố này có thể tác động mạnh đến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.

Vì vậy, tinh thần đúng đắn không phải là “lạc quan để quên khó khăn”, mà là lạc quan có tỉnh táo. Chúng ta cần giữ được khí thế tiến lên, nhưng đồng thời phải chuẩn bị kỹ các kịch bản ứng phó, nâng cao kỷ luật chính sách và năng lực quản trị rủi ro.

Nói cách khác, khó khăn không bị cuốn phăng bởi nhịp đi nhanh, mà chỉ có thể được hóa giải bằng cải cách sâu, hành động quyết liệt và sự phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Chính thái độ này mới bảo đảm cho tăng trưởng nhanh đi cùng tăng trưởng bền vững.

PV: Như vậy, động lực tăng trưởng chính bắt đầu từ con người - cộng đồng doanh nghiệp?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Đúng vậy, động lực tăng trưởng bền vững cuối cùng vẫn bắt đầu từ con người và cộng đồng doanh nghiệp, nhưng cần nhấn mạnh rằng đây không phải là một động lực tự phát, mà là kết quả của một môi trường thể chế và quản trị phù hợp.

Trước hết, con người là chủ thể sáng tạo và thực thi mọi động lực tăng trưởng. Dù là công nghệ, hạ tầng hay vốn, thì suy cho cùng đều phải được vận hành bởi con người. Khi người lao động có kỹ năng, có kỷ luật và có động lực học tập suốt đời; khi đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, liêm chính và dám chịu trách nhiệm, thì hiệu quả của toàn bộ hệ thống sẽ được nâng lên rõ rệt.

Với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, đây chính là lực lượng trực tiếp biến khát vọng phát triển thành của cải vật chất và giá trị xã hội. Một cộng đồng doanh nghiệp khỏe mạnh không chỉ tạo ra tăng trưởng, việc làm và nguồn thu cho ngân sách, mà còn là nơi ươm mầm đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, để con người và doanh nghiệp thực sự trở thành động lực trung tâm, Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo: Bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, giảm rủi ro chính sách và nuôi dưỡng niềm tin dài hạn.

Có thể nói, khi con người được trao cơ hội và doanh nghiệp được tiếp thêm niềm tin, tăng trưởng không còn là mệnh lệnh hành chính, mà trở thành kết quả tự nhiên của một xã hội năng động, sáng tạo và có trách nhiệm.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hà An

Nguồn CAND: https://cand.com.vn/kinh-te/dong-luc-de-nen-kinh-te-but-pha-tang-truong-2-con-so-i793108/