Đột phá dữ liệu số ngành nông nghiệp

Xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng trong tái cơ cấu ngành, thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu trên nhiều lĩnh vực. Qua đó, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu số phục vụ quản lý tài nguyên, theo dõi sản xuất, nâng cao hiệu quả điều hành và tạo cơ sở thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.

Chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao hiệu quả quản lý

Đất đai là lĩnh vực có khối lượng dữ liệu lớn, liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và công tác quản lý tài nguyên. Vì vậy, làm sạch, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu đất đai được Sở Nông nghiệp và Môi trường tập trung thực hiện.

Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện đồng bộ 1.765.845/2.161.296 thửa đất nhóm 1 lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đạt 82%; cập nhật, làm sạch 1.996.577/2.408.476 thửa, đạt 82,9%. Khối lượng hoàn thành đối với thửa đất nhóm 2 đạt 660.660 thửa, bằng 102,8% kế hoạch; số thửa đất nhóm 3 còn tồn đọng là 458.698 thửa. Công tác xác thực, đối khớp dữ liệu đất đai với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng được triển khai, với 102.066/111.742 dòng dữ liệu đủ điều kiện đã được xác thực, đạt 91,3%.

Tập trung làm sạch, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu đất đai - Ảnh: Đ.H

Tập trung làm sạch, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu đất đai - Ảnh: Đ.H

Quá trình số hóa cũng mở rộng sang nhiều lĩnh vực chuyên ngành của nông nghiệp. Trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, ngành đã hình thành 5 nhóm cơ sở dữ liệu nền tảng; số hóa dữ liệu cho 75 vùng trồng và 2 cơ sở đóng gói. Riêng dữ liệu 3.034,52/3.456,92ha cà phê đã được thu thập trên phần mềm Open Foris Ground, đạt 87,8%; trong đó xã Hướng Phùng đã hoàn thành 100%.

Đối với lĩnh vực thủy sản, dữ liệu 100% tàu cá, gồm 4.628 tàu đã được chuẩn hóa trên hệ thống VnFishBase và eDTC, phục vụ công tác quản lý và chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Thiết bị giám sát hành trình VMS đã được lắp đặt cho 1.318 tàu cá, đạt 98,1%.

Kiểm tra thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá - Ảnh: Đ.H

Kiểm tra thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá - Ảnh: Đ.H

Ở lĩnh vực lâm nghiệp, 8 lớp dữ liệu chuyên ngành đã được tích hợp lên Bản đồ số ngành. Ngành đã khảo sát 54 vị trí, lắp đặt 18 camera AI kết hợp với viễn thám, flycam để phục vụ theo dõi, cảnh báo sớm cháy rừng và giám sát tài nguyên rừng.

Ngành cũng đã đưa vào vận hành hệ thống quan trắc gồm 67 trạm đo mưa tự động, 9 trạm đo mực nước và 40 camera giám sát thiên tai. Hệ thống cảnh báo lũ tại địa chỉ quangbinh.wradm.vn cho phép cơ quan quản lý và người dân theo dõi số liệu quan trắc theo thời gian thực.

Theo ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, chuyển đổi số trước hết phải bắt đầu từ chuẩn hóa dữ liệu. Khi dữ liệu được làm sạch, đồng bộ và kết nối giữa các lĩnh vực, công tác quản lý tài nguyên, theo dõi sản xuất và giải quyết thủ tục hành chính sẽ có thêm cơ sở để thực hiện nhanh chóng, chính xác hơn.

Đưa dữ liệu vào chuỗi giá trị nông sản

Không chỉ phục vụ quản lý hành chính, dữ liệu số còn mở ra khả năng kết nối thông tin vùng trồng, cơ sở sản xuất, sản phẩm và thị trường. Khi được khai thác hiệu quả, nguồn dữ liệu này góp phần nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin và hỗ trợ nông sản tiếp cận các kênh tiêu thụ.

Toàn tỉnh hiện có 710 hợp tác xã nông nghiệp; trong đó 107 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao (chiếm 15%), 205 hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi (chiếm 28,8%). Có 295 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, gồm 3 sản phẩm 5 sao, 29 sản phẩm 4 sao và 263 sản phẩm 3 sao, thuộc 234 chủ thể. Thông tin sản phẩm được số hóa trên cổng ocop.quangtri.gov.vn, đồng thời kết nối giao thương qua các sàn thương mại điện tử như quangtritrade.vn và postmart.vn.

Đẩy mạnh livestream bán sản phẩm địa phương trên các nền tảng số. Ảnh: Đ.H

Đẩy mạnh livestream bán sản phẩm địa phương trên các nền tảng số. Ảnh: Đ.H

Trên nền tảng dữ liệu hiện có, ngành Nông nghiệp và Môi trường định hướng đưa công nghệ số vào sâu hơn trong chuỗi sản xuất. Các giải pháp được triển khai, nghiên cứu gồm ứng dụng blockchain trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm OCOP, bẫy sâu rầy thông minh tích hợp AI để theo dõi và quản lý dịch hại, phần mềm kinh tế hợp tác và trợ lý ảo AI Assistant hỗ trợ hoạt động chuyên môn. Ngành xác định cách tiếp cận “lồng ghép trước, đầu tư sau”, tận dụng nền tảng, dữ liệu và công nghệ hiện có để từng bước mở rộng ứng dụng số, phù hợp với điều kiện thực tế.

Để đáp ứng yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai dự án nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị và bảo đảm an toàn thông tin Trung tâm dữ liệu ngành, với tổng kinh phí 14 tỉ đồng. Bên cạnh đó, 954 tài khoản trên nền tảng AI công vụ đã được cấp cho cán bộ, công chức, viên chức, tạo điều kiện ứng dụng các công cụ AI vào xử lý công việc chuyên môn.

Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, xây dựng cơ sở dữ liệu số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin mà còn gắn với thay đổi phương thức quản lý, điều hành và tổ chức sản xuất. Thời gian tới, ngành tiếp tục gắn trách nhiệm người đứng đầu với các chỉ tiêu chuyển đổi số; đồng thời tập trung xử lý dữ liệu tồn đọng, đẩy mạnh thanh toán trực tuyến, giảm hồ sơ quá hạn và kết nối đồng bộ dữ liệu chuyên ngành với kho dữ liệu dùng chung của tỉnh.

Đặng Hiền

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/khoa-hoc-cong-nghe/202610/dot-pha-du-lieu-so-nganh-nong-nghiep-ce90244/