Đột phá thể chế để đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới
Đột phá thể chế và thực thi được Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định là một trong 3 đột phá chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Yêu cầu đặt ra trong nhiệm kỳ mới về đột phá thể chế là phải làm đến nơi đến chốn, vì đây là đòn bẩy quyết định cho đất nước bứt phá phát triển trong kỷ nguyên mới.

Đột phá thể chế sẽ tiếp tục là đòn bẩy quyết định cho đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới. Ảnh Quang Thái
1. Trong 3 đột phá chiến lược, Đại hội XIV của Đảng xác định đột phá thứ nhất về thể chế và thực thi. Cụ thể là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực trở thành lợi thế cạnh tranh, giảm chi phí tuân thủ của nhân dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương.
Thực tế, trong giai đoạn 2021-2025, đột phá về thể chế đã được Đảng, Nhà nước ta cụ thể hóa một cách hiệu quả và luôn bám sát thực tiễn phát triển đất nước. Hệ thống khung khổ pháp lý, quyết sách phát triển được thông qua đã khẩn trương thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm ý Đảng hòa quyện lòng dân để đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi, xuyên suốt được nêu trong Nghị quyết số 66-NQ/TƯ ngày 30-4-2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Kỳ họp thứ 9 và kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV là những dấu mốc đặc biệt về lịch sử lập pháp ở nước ta. Các kỳ họp này đã thể chế hóa nhiều chủ trương rất quan trọng của Đảng đối với tương lai phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng với nhiều luật, nghị quyết đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, sắp xếp bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp. Bên cạnh đó, Quốc hội thông qua 4 luật quan trọng gồm: Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) và Nghị quyết về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, 4 nghị quyết để thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
Bước đi đột phá về thể chế đã tạo cơ sở pháp lý vận hành mô hình chính quyền 3 cấp lần đầu tiên ở nước ta là: Trung ương, tỉnh/thành phố và xã, phường, đặc khu. Đến nay, 3 cấp chính quyền trở thành một chỉnh thể vận hành thông suốt, chia sẻ trách nhiệm và hỗ trợ nhau cùng kiến tạo phát triển đất nước.
Cùng với vận hành chính quyền 3 cấp, bước vào kỷ nguyên mới, hệ thống pháp luật cũng đang từng bước được xây dựng hoàn chỉnh, minh bạch nhằm vận hành hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, từ đó tạo dư địa kiến tạo phát triển đất nước.
Bước tiến mạnh mẽ là tại kỳ họp thứ 10 - kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XV đã thông qua 51 luật, 39 nghị quyết, trong đó có 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là một khối lượng lập pháp rất lớn, chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ. Các luật, nghị quyết được thông qua vừa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn, vừa kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Điểm đáng chú ý trong quá trình này là Chính phủ, Quốc hội đã đổi mới tư duy, phương thức xây dựng, hoàn thiện thể chế qua việc kiên trì tháo gỡ các rào cản pháp lý, xử lý những điểm nghẽn cản trở phát triển, qua đó nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực.
2. Cùng với Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành 9 nghị quyết chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (số 57, số 59, số 66, số 68, số 70, số 71, số 72, số 79 và số 80), tập trung vào các lĩnh vực then chốt như: Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển kinh tế nhà nước; bảo đảm an ninh năng lượng; giáo dục - đào tạo; y tế và văn hóa.
Việc thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng các nghị quyết chiến lược đã, đang và sẽ được tiến hành đồng bộ, bảo đảm khung khổ pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất, góp phần quan trọng đưa chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhấn mạnh: “Quốc hội xác định rõ: Chất lượng và tiến độ thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV chính là thước đo quan trọng nhất để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới. Mọi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết; mọi quyết định về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… đều phải phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIV đã đề ra”.
Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế cần thực hiện theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TƯ là “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, trên quan điểm nhất quán ban hành luật để quản lý xã hội bằng pháp luật và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá”. Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”.
Đại hội XIV của Đảng cũng đặt ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế để kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình, liên thông dữ liệu. Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Song song với cải cách, phải xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi. Kiên quyết khắc phục bằng được tình trạng: “Luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng”, “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều, làm ít”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”, gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của nhân dân. Đồng thời, thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của nhân dân.
Một đạo luật tốt không phải là đạo luật viết hay, mà là đạo luật đi được vào cuộc sống. Đây là công việc đòi hỏi trí tuệ, bản lĩnh và trải nghiệm thực tiễn. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chủ động, kiến tạo, bảo đảm pháp luật thống nhất, đồng bộ, cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực thi. Đi kèm với đó là nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực thi, gắn quyền lực với trách nhiệm giải trình. Thi hành pháp luật cần nghiêm minh, công bằng, thực chất, chuyển đổi số phải gắn liền với công khai, minh bạch, thuận tiện hóa tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, trong phân cấp, phân quyền cần rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, triệt tiêu các lợi ích cục bộ và đặc quyền nhóm.
Thể chế pháp luật là động lực, là nền tảng cho phát triển đất nước. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, minh bạch sẽ tạo ra môi trường ổn định cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và loại bỏ triệt để các rào cản do pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn gây ra. Với yêu cầu đó, các cấp, ngành, địa phương phải thực hiện cho được chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là: “Thể chế, pháp luật có chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của mỗi quốc gia. Do đó, để đất nước vươn mình phát triển mạnh mẽ, chúng ta dứt khoát nói “không” với bất cứ hạn chế, bất cập nào trong thể chế, pháp luật; không thỏa hiệp với bất kỳ yếu kém nào trong thiết kế chính sách, soạn thảo pháp luật, hay tổ chức thực thi”.












