Dự án 4F Quế Lâm Lam Hồng: Động lực phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn tại Hà Tĩnh
Với tổng vốn đầu tư 1.276 tỷ đồng, quy mô gần 47 ha tại thôn Thiện Nộ, xã Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ hợp kinh tế nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái 4F Quế Lâm Lam Hồng được định hướng xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, kết nối trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thực phẩm và sản xuất dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi. Dự án không chỉ mở ra hướng đầu tư mới cho nông nghiệp xanh mà còn đặt kỳ vọng hình thành hệ sinh thái sản xuất gắn với chuyển giao khoa học, liên kết nông dân và nâng cao giá trị nông sản địa phương.

4F đã đoạt giải cao tại cuộc thi sáng kiến nông nghiệp xanh và ESG do Tổng hội nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức. Ảnh NT
Bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Ngày 22/9/2026, Tổ hợp kinh tế nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái 4F Quế Lâm Lam Hồng chính thức được khởi công tại xã Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Dự án do Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Organic Quế Lâm Lam Hồng, đơn vị thành viên của Tập đoàn Quế Lâm, làm chủ đầu tư. Với quy mô gần 47 ha và tổng vốn đầu tư 1.276 tỷ đồng, đây là một trong những dự án đầu tư đáng chú ý trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn tại khu vực Bắc Trung Bộ.
Điểm đáng chú ý của dự án không chỉ nằm ở quy mô vốn và diện tích, mà còn ở cách tổ chức sản xuất. Thay vì phát triển các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và cung ứng vật tư thành những khâu tương đối độc lập, mô hình 4F hướng tới kết nối chúng thành một chuỗi có quan hệ hữu cơ. Sản phẩm của khâu này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho khâu khác; phụ phẩm được nghiên cứu, xử lý và tái sử dụng phù hợp; chất thải được quản lý theo quy trình nhằm giảm tác động đến môi trường.
Cách tiếp cận đó phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy sản xuất đơn ngành sang phát triển kinh tế nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Giá trị không chỉ được tính bằng sản lượng thu hoạch, mà còn được tạo ra từ khả năng chế biến sâu, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Trong bối cảnh Hà Tĩnh vừa có tiềm năng phát triển nông nghiệp, vừa chịu tác động của thời tiết cực đoan, hạn hán, mưa bão và những thách thức về môi trường, việc đầu tư một tổ hợp nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn có ý nghĩa gợi mở. Nếu được triển khai đồng bộ, dự án có thể góp phần hình thành phương thức sản xuất coi trọng chất lượng, hiệu quả dài hạn và trách nhiệm đối với hệ sinh thái.
Mô hình 4F: Khép kín chuỗi giá trị nông nghiệp
Trọng tâm của dự án là mô hình 4F, viết tắt của Farm – Food – Feed – Fertilizer, tương ứng với nông trại, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và dinh dưỡng cho cây trồng. Bốn hợp phần được tổ chức trong một hệ thống liên kết, hướng tới khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu, hạn chế chất thải và nâng cao giá trị gia tăng.
Theo quy hoạch, tổ hợp sẽ xây dựng năm nhà máy với công suất thiết kế đáng chú ý:
- Nhà máy sản xuất, chế biến lúa gạo: 100.000 tấn/năm.
- Nhà máy sản xuất dinh dưỡng vật nuôi: 50.000 tấn/năm.
- Nhà máy sản xuất dinh dưỡng cây trồng: 150.000 tấn/năm.
- Nhà máy sản xuất men vi sinh thảo mộc, thảo dược: 50.000 tấn/năm.
- Nhà máy sản xuất viên nén, chất đốt: 50.000 tấn/năm.
Bên cạnh các nhà máy là hệ thống trồng trọt, chăn nuôi lợn, bò, gia cầm, trang trại nuôi ruồi lính đen, khu cây ăn quả và vườn ươm giống công nghệ cao. Hệ thống giao thông nội bộ, thoát nước, hồ điều hòa và xử lý chất thải cũng được đưa vào quy hoạch nhằm phục vụ hoạt động sản xuất đồng bộ.
Ý nghĩa của cấu trúc này nằm ở khả năng tổ chức lại dòng nguyên liệu trong sản xuất nông nghiệp. Phụ phẩm trồng trọt, nếu được thu gom và xử lý đúng quy trình, có thể trở thành nguyên liệu cho các sản phẩm hữu ích. Chất thải chăn nuôi có thể được xử lý bằng công nghệ sinh học để thu hồi giá trị dinh dưỡng, tạo nguồn nguyên liệu phù hợp cho sản xuất phân bón hữu cơ. Hoạt động nuôi ruồi lính đen cũng có tiềm năng hỗ trợ xử lý một số dòng phụ phẩm hữu cơ phù hợp, tạo sinh khối phục vụ những mục đích sử dụng được kiểm soát.
Tuy nhiên, tính tuần hoàn không đồng nghĩa với việc mọi loại chất thải đều có thể tái sử dụng trực tiếp. Hiệu quả của mô hình phụ thuộc vào quy trình phân loại, xử lý, kiểm soát an toàn sinh học và chất lượng đầu ra. Đây là những yếu tố cần được thực hiện nghiêm túc để bảo đảm lợi ích môi trường đi cùng hiệu quả kinh tế.

Sáng kiến không chỉ làm lợi cho tập đoàn còn tạo sinh kế cho người dân địa phương. Ảnh NT
Công nghệ vi sinh và bài toán giảm phát thải
Một định hướng quan trọng của 4F Quế Lâm Lam Hồng là ứng dụng công nghệ vi sinh, chế phẩm sinh học trong sản xuất dinh dưỡng cho cây trồng và vật nuôi, đồng thời chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người sản xuất.
Đối với trồng trọt, việc sử dụng dinh dưỡng hữu cơ phù hợp có thể góp phần cải thiện chất lượng đất, tăng khả năng giữ ẩm và giảm phụ thuộc vào một số loại vật tư hóa học. Trong chăn nuôi, quy trình quản lý thức ăn, chất thải và vệ sinh chuồng trại có thể giúp hạn chế ô nhiễm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Dẫu vậy, sản xuất hữu cơ và tuần hoàn không thể chỉ được xác định bằng việc sử dụng chế phẩm sinh học. Hiệu quả cần được kiểm chứng thông qua chất lượng sản phẩm, độ an toàn, chi phí sản xuất và các chỉ số môi trường. Nếu hướng tới giảm phát thải, dự án cần từng bước xây dựng hệ thống theo dõi lượng năng lượng sử dụng, nguồn phát sinh khí nhà kính, lượng phụ phẩm được tái sử dụng và chất thải còn phải xử lý.
Đây cũng là cơ sở để hình thành phương thức quản trị theo định hướng ESG, trong đó các cam kết về môi trường phải gắn với dữ liệu có thể kiểm chứng; trách nhiệm xã hội phải thể hiện qua việc làm, điều kiện lao động và lợi ích của người dân; còn quản trị cần bảo đảm tính minh bạch trong chuỗi cung ứng.
Liên kết với nông dân, mở rộng vùng nguyên liệu
Một tổ hợp sản xuất quy mô lớn chỉ có thể phát huy hiệu quả bền vững khi gắn kết được với vùng nguyên liệu và cộng đồng nông dân. Đối với Quế Lâm Lam Hồng, việc tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật và phát triển các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị là những mục tiêu được xác định ngay từ đầu.
Nếu được tổ chức hiệu quả, doanh nghiệp có thể hỗ trợ nông dân về quy trình canh tác, vật tư đầu vào, kỹ thuật sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng; đồng thời kết nối sản phẩm với cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ. Hợp tác xã có thể đóng vai trò tập hợp các hộ, thống nhất quy trình, giám sát chất lượng và tổ chức ghi chép dữ liệu sản xuất.
Cách liên kết này có ý nghĩa đặc biệt với những hộ sản xuất quy mô nhỏ, vốn khó tự đầu tư đồng bộ công nghệ và đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường. Khi tham gia chuỗi liên kết, người nông dân cần được bảo đảm thông tin minh bạch về tiêu chuẩn, giá thu mua, phương thức thanh toán và phân chia lợi ích. Nguyên tắc hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro sẽ quyết định mức độ bền vững của quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và người sản xuất.
Tại lễ khởi công, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh yêu cầu phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân; đồng thời đề nghị công khai, minh bạch tiêu chuẩn sản phẩm, xây dựng thương hiệu và nghiên cứu thị trường. Đây là những điều kiện quan trọng để mô hình không chỉ tạo ra năng lực sản xuất mà còn hình thành được thị trường tiêu thụ ổn định.
Tạo động lực mới cho nông nghiệp Hà Tĩnh
Theo thông tin công bố, trong 15 tháng đầu triển khai, chủ đầu tư tập trung xây dựng nhà điều hành, khu lưu trú và một số nhà máy ưu tiên, gồm nhà máy sản xuất, chế biến lúa gạo, nhà máy dinh dưỡng cây trồng và nhà máy men vi sinh thảo mộc, thảo dược.
Tiến độ triển khai các hạng mục này sẽ là cơ sở ban đầu để đánh giá khả năng hiện thực hóa mục tiêu của dự án. Cùng với việc bảo đảm tiến độ đầu tư, yêu cầu đặt ra là kiểm soát chặt chẽ tác động môi trường, tuân thủ quy định về đất đai, xây dựng, an toàn sinh học và chất lượng sản phẩm.
Khi đi vào vận hành theo kế hoạch, tổ hợp được kỳ vọng tạo thêm việc làm, mở rộng nhu cầu nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến và thúc đẩy chuyển giao kỹ thuật cho khu vực nông thôn. Những tác động đó không chỉ thể hiện ở hoạt động của doanh nghiệp mà còn có thể lan tỏa đến các hợp tác xã, hộ nông dân và các chủ thể trong chuỗi cung ứng.
Về lâu dài, giá trị của dự án cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể: tỷ lệ công suất được khai thác, số lượng lao động có việc làm ổn định, số hộ nông dân tham gia liên kết, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng phụ phẩm và mức độ kiểm soát chất thải. Đây cũng là cơ sở để phân biệt một mô hình tuần hoàn thực chất với mô hình mới dừng ở thiết kế hoặc định hướng đầu tư.
Với quy mô gần 47 ha, vốn đầu tư 1.276 tỷ đồng và định hướng kết nối bốn lĩnh vực sản xuất trong một chuỗi giá trị, 4F Quế Lâm Lam Hồng mở ra kỳ vọng mới cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp tại Hà Tĩnh. Nhưng điều làm nên thành công lâu dài không chỉ là quy mô nhà máy hay công suất thiết kế, mà còn là khả năng đưa công nghệ vào thực tiễn, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, bảo vệ môi trường và bảo đảm người nông dân được hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Từ Cẩm Xuyên, mô hình 4F có thể trở thành một điểm tham chiếu đáng chú ý cho nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn ở Bắc Trung Bộ. Nếu các mục tiêu được triển khai đồng bộ, có dữ liệu chứng minh và gắn chặt với thị trường, dự án sẽ góp phần thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, hướng tới một nền nông nghiệp xanh hơn, hiệu quả hơn và có sức cạnh tranh bền vững. Dự án đã đoạt giải nhất cuộc thi sáng kiến nông nghiệp xanh và ESG do Tổng hội nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức và trao giải chiều 25/10/2026./.
