Dự kiến cho phép xuất hóa đơn tổng đối với dịch vụ vận tải hành khách
Dù Dự thảo sửa đổi Nghị định 123/2020/NĐ-CP đề xuất khôi phục cơ chế hóa đơn tổng với một số loại hình vận tải, song dịch vụ xe hợp đồng, xe mô tô hai bánh vẫn đứng ngoài phạm vi áp dụng khiến nhiều doanh nghiệp phải xuất hóa đơn cho từng chuyến đi, làm đội chi phí vận hành và tạo áp lực lớn lên hệ thống dữ liệu…

Dịch vụ gọi xe nền tảng được xuất hóa đơn tổng thay vì từng lần.
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020/NĐ-CP về hóa đơn, chứng từ (đã được sửa đổi bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP) của Bộ Tài chính thu hút sự quan tâm từ cộng đồng doanh nghiệp khi đề xuất khôi phục cơ chế lập hóa đơn tổng đối với các dịch vụ có tần suất giao dịch lớn nhưng giá trị từng lần nhỏ.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất bổ sung tại Điểm s Khoản 4 Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, cho phép lĩnh vực vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và taxi có sử dụng phần mềm tính tiền theo quy định của Luật Đường bộ lập hóa đơn tổng cuối ngày cho khách hàng là cá nhân không kinh doanh.
Điều kiện đặt ra là phần mềm phải thể hiện đầy đủ thông tin chuyến đi như tên đơn vị kinh doanh, biển số xe, hành trình, cự ly và tổng số tiền phải thanh toán, Bộ Tài chính nêu rõ.
Theo đánh giá từ cơ quan soạn thảo, đây là bước điều chỉnh phù hợp với thực tiễn khi đặc thù của dịch vụ vận tải hành khách là số lượng giao dịch lớn, phát sinh liên tục trong ngày. Việc cho phép lập hóa đơn tổng giúp giảm áp lực xuất hóa đơn lẻ cho từng giao dịch nhỏ và tiết kiệm chi phí vận hành.
Tuy nhiên, trong văn bản góp ý gửi cơ quan soạn thảo, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng quy định vẫn chưa bao quát hết thực tiễn hoạt động của thị trường vận tải hiện nay.
“Các loại hình vận tải hành khách bằng xe hợp đồng và xe mô tô 2 bánh (xe công nghệ) có đặc điểm quản lý hóa đơn tương đồng với mô hình xe buýt và taxi: giao dịch phát sinh thường xuyên, được ghi nhận đầy đủ qua phần mềm và có khả năng đối soát dữ liệu tự động. Do đó, việc không đưa các dịch vụ này vào phạm vi áp dụng có thể tạo ra sự thiếu thống nhất trong chính sách và gia tăng chi phí tuân thủ không cần thiết”.
(Góp ý của VCCI)
Theo phản ánh từ phía doanh nghiệp, dự thảo hiện mới chỉ đề cập đến xe buýt và taxi, trong khi vẫn còn tồn tại “khoảng trống” với các loại hình vận tải hành khách bằng xe hợp đồng và xe mô tô hai bánh (xe công nghệ) có sử dụng phần mềm tính tiền, phần mềm hỗ trợ kết nối vận tải.
Chính vì vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung dịch vụ vận tải hành khách bằng xe hợp đồng, xe mô tô hai bánh có sử dụng phần mềm tính tiền, phần mềm hỗ trợ kết nối vận tải vào phạm vi được lập hóa đơn tổng cuối ngày đối với khách hàng cá nhân không kinh doanh tại Điều 1 của Dự thảo để bảo đảm tính đồng bộ.
Không chỉ dừng ở khách hàng cá nhân, VCCI cũng nêu vướng mắc liên quan đến cơ chế xuất hóa đơn điện tử cho khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp.
Theo phản ánh từ các nền tảng gọi xe, hiện nay có một bộ phận lớn khách hàng là doanh nghiệp ký hợp đồng sử dụng dịch vụ theo hình thức dùng trước – thanh toán sau theo chu kỳ cố định (tháng hoặc quý).
Tuy nhiên, các khách hàng này không có nhu cầu nhận hóa đơn cho từng chuyến đi riêng lẻ, mà chỉ cần một hóa đơn giá trị gia tăng tổng hợp dựa trên bảng đối soát giao dịch cuối kỳ.
VCCI phân tích, mô hình vận tải trên nền tảng số hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí cho phép lập hóa đơn theo kỳ quy ước như quy định tại điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP (sửa đổi điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP): cung cấp dịch vụ với số lượng lớn, phát sinh thường xuyên và cần có thời gian đối soát giữa bên bán và bên mua.
Tuy nhiên, cả Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Dự thảo sửa đổi hiện nay đều chưa liệt kê dịch vụ vận tải hành khách công nghệ vào danh mục ngành nghề được áp dụng cơ chế lập hóa đơn theo kỳ.
Việc cho phép xuất hóa đơn tổng theo kỳ không làm thay đổi nghĩa vụ thuế bởi các nền tảng đã thực hiện kê khai, khấu trừ và nộp thuế thay đầy đủ theo quy định.
(Góp ý của VCCI)
Khoảng trống này khiến các nền tảng phải phát hành hàng nghìn, thậm chí hàng triệu hóa đơn lẻ thay vì một hóa đơn tổng theo chu kỳ. Hệ quả là làm gia tăng đáng kể chi phí vận hành, dung lượng lưu trữ dữ liệu và áp lực xử lý kỹ thuật.
Không chỉ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chịu tác động, phía khách hàng là tổ chức cũng gặp khó khăn khi hệ thống kế toán phải tiếp nhận khối lượng hóa đơn khổng lồ, gây quá tải cho khâu hạch toán
Đáng chú ý, số lượng hóa đơn điện tử lớn này được truyền trực tiếp về hệ thống của cơ quan thuế, kéo theo áp lực về hạ tầng và quản lý dữ liệu.
Từ các phân tích trên, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung hoạt động “dịch vụ vận tải hành khách (bằng xe taxi, xe hợp đồng, xe mô tô hai bánh) có sử dụng phần mềm tính tiền, phần mềm hỗ trợ kết nối vận tải theo quy định của Luật Đường bộ, cung cấp cho khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức” vào điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP.
Trong bối cảnh mô hình nền tảng số ngày càng phổ biến, việc mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế hóa đơn tổng không chỉ giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà còn góp phần tối ưu hóa hệ thống quản lý thuế, tránh phát sinh gánh nặng hành chính không cần thiết.










