Du lịch cộng đồng: Phát triển xanh gắn với bảo tồn văn hóa và sinh kế
Du lịch cộng đồng đang mở ra cơ hội phát triển kinh tế dựa trên tài nguyên bản địa, văn hóa và hệ sinh thái tự nhiên. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, các điểm đến cần vượt qua tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần, lấy cộng đồng làm chủ thể, đồng thời kiểm soát sức chịu tải và bảo đảm người dân được hưởng lợi công bằng.
Không đánh đổi bản sắc để tăng trưởng du lịch
Trong bối cảnh phát triển xanh, biến đổi khí hậu và xu hướng du lịch chuyển từ tham quan đơn thuần sang trải nghiệm, du lịch cộng đồng ngày càng được nhìn nhận như một phương thức phát triển kinh tế – xã hội dựa trên những giá trị đặc trưng của mỗi địa phương. Không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập, loại hình này còn góp phần gìn giữ văn hóa bản địa, phát huy tri thức truyền thống và nâng cao giá trị của hệ sinh thái tự nhiên.
Theo PGS.TS Mai Quang Vinh, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, Viện trưởng Viện Công nghệ Xanh, vấn đề cốt lõi của du lịch cộng đồng không đơn thuần là thu hút bao nhiêu lượt khách, xây dựng thêm bao nhiêu cơ sở lưu trú hay phát triển bao nhiêu sản phẩm trải nghiệm. Quan trọng hơn là tổ chức hoạt động du lịch như thế nào để không làm đứt gãy mối quan hệ giữa con người, cộng đồng và thiên nhiên.
Luật Du lịch năm 2017 đã xác định du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển trên cơ sở giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư tham gia quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi. Thực tế, nhiều địa phương đã phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng như homestay, ẩm thực truyền thống, nghề thủ công, trải nghiệm nông nghiệp, đi bộ khám phá thiên nhiên và biểu diễn nghệ thuật dân gian. Đây là những hướng đi có tiềm năng tạo thêm sinh kế, mở rộng thị trường cho sản phẩm địa phương và tăng sức hấp dẫn của điểm đến.
Tuy nhiên theo PGS.TS Mai Quang Vinh những sản phẩm này là cần thiết, nhưng chưa đủ. Du lịch có thể tạo thêm thị trường cho nghề thủ công, ẩm thực, nghệ thuật truyền thống và lễ hội. Nhưng nếu thiếu cơ chế quản lý phù hợp, những giá trị vốn gắn với đời sống cộng đồng có thể bị biến đổi để đáp ứng nhu cầu của du khách.

Điểm du lịch cộng đồng tại Mường Cốc xã Mỹ Đức- Hà Nội. Ảnh: Thanh Bình
Dẫn chứng, PGS.TS Mai Quang Vinh cho rằng, một nghi lễ chỉ diễn ra vào thời điểm nhất định có thể bị chuyển thành chương trình biểu diễn hằng ngày; sản phẩm thủ công đòi hỏi nhiều công đoạn có thể bị thay thế bằng hàng sản xuất công nghiệp; không gian tín ngưỡng có thể trở thành điểm check-in thiếu quy tắc. Khi đó, di sản có thể vẫn tồn tại về hình thức nhưng ý nghĩa xã hội, văn hóa và mối liên hệ với cộng đồng thực hành đã suy giảm.
Vì vậy, mỗi điểm du lịch cộng đồng cần xây dựng quy tắc rõ ràng về những giá trị có thể giới thiệu, những không gian cần được bảo vệ và cách ứng xử của du khách. Việc khai thác di sản phải tôn trọng quyền của cộng đồng trong quyết định cách thức giới thiệu, sử dụng hình ảnh và thực hành văn hóa của chính mình.
Có cơ chế khuyến khích điểm du lịch cộng đồng theo vùng sinh thái
Để du lịch cộng đồng phát triển theo hướng xanh và bền vững, PGS.TS Mai Quang Vinh cho rằng cần hoàn thiện đồng bộ các cơ chế quản lý, hỗ trợ và đánh giá hiệu quả. Trước hết, cơ quan quản lý du lịch ở Trung ương và địa phương cần bổ sung yêu cầu lập hồ sơ sinh thái nhân văn, đánh giá sức chịu tải trong hướng dẫn quy hoạch, xây dựng đề án hoặc công nhận điểm du lịch cộng đồng. Qua đó, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng lượng khách không vượt trước năng lực của hệ sinh thái và cộng đồng sở tại.
Thứ hai, chính sách hỗ trợ du lịch cộng đồng cần chuyển từ đầu tư các công trình đơn lẻ sang nâng cao năng lực quản trị, bảo vệ tài nguyên, đổi mới sản phẩm, chuyển đổi số và phát triển chuỗi giá trị. Nguồn lực Nhà nước nên đóng vai trò vốn mồi, giúp cộng đồng hình thành năng lực tự vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và từng bước chủ động về thị trường, thay vì phụ thuộc kéo dài vào hỗ trợ bên ngoài.
Thứ ba, cần xây dựng hướng dẫn quốc gia về bảo vệ di sản sống trong hoạt động du lịch, nhất là đối với nghi lễ, tri thức bản địa, nghề truyền thống và không gian tín ngưỡng. Cơ chế này cần đề cao quyền của cộng đồng trong việc quyết định cách thức giới thiệu, khai thác và sử dụng các giá trị văn hóa, phù hợp với tinh thần Công ước UNESCO năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và pháp luật về di sản văn hóa.
Một yêu cầu quan trọng khác là đổi mới cách đánh giá hiệu quả phát triển du lịch cộng đồng. Theo PGS.TS Mai Quang Vinh, bên cạnh số lượt khách và doanh thu, các địa phương cần theo dõi tỷ lệ lợi ích kinh tế được giữ lại trong cộng đồng, tỷ lệ lao động địa phương và mức độ hài lòng của cư dân. Đây là những chỉ số phản ánh trực tiếp chất lượng phát triển, khả năng duy trì sinh kế và mức độ đồng thuận của người dân.
Khi cư dân được hưởng lợi và có tiếng nói trong quá trình quản lý, họ sẽ có động lực bảo vệ tài nguyên, duy trì bản sắc và tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh. Ngược lại, nếu lợi ích chủ yếu tập trung vào một số chủ thể bên ngoài trong khi cộng đồng phải gánh chịu áp lực về môi trường, hạ tầng và không gian sống, tính bền vững của điểm đến sẽ bị đe dọa.
Cuối cùng cần khuyến khích mạng lưới các điểm du lịch cộng đồng theo vùng sinh thái thay vì phát triển cạnh tranh riêng lẻ. Liên kết tuyến giúp phân tán khách, kéo dài thời gian lưu trú, chia sẻ thị trường, chia sẻ đào tạo và giảm áp lực lên một điểm nổi tiếng. Mỗi cộng đồng có thể giữ sản phẩm riêng nhưng cùng sử dụng nền tảng dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng và xúc tiến chung.
