Du lịch Việt Nam bước vào chặng tăng tốc cuối năm
Sau 8 tháng đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, ngành du lịch đang tập trung hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, sản phẩm và chuyển đổi số để tạo nền tảng tăng trưởng cho những năm tiếp theo.
Mở rộng thị trường, làm mới sản phẩm du lịch
Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 63,6% kế hoạch cả năm.
Khách du lịch nội địa đạt 113 triệu lượt, tăng 6,6% so với cùng kỳ và hoàn thành 75,3% mục tiêu đón 150 triệu lượt khách. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 781.000 tỷ đồng, tăng 10,4%, tương đương 69,4% kế hoạch năm.

Khách quốc tế tham quan khu vực hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh: Diệu Linh
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, An Giang, Lâm Đồng và Khánh Hòa tiếp tục là những địa bàn duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Trong bối cảnh hoạt động du lịch thế giới và khu vực còn đối mặt với nhiều sức ép, kết quả trên cho thấy sức hấp dẫn của điểm đến Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Đáng chú ý, tháng 8 vốn nằm trong mùa thấp điểm của thị trường khách quốc tế nhưng Việt Nam vẫn đón gần 2 triệu lượt, tăng 19,7% so với tháng trước và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Đường hàng không tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 83% tổng lượng khách quốc tế. Châu Á là thị trường nguồn lớn nhất với khoảng 11,8 triệu lượt khách, chiếm gần 74% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam.
Bên cạnh những thị trường truyền thống, khách đến từ châu Âu, châu Mỹ và châu Úc đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Nga và Ấn Độ nổi lên trong nhóm thị trường có tốc độ tăng cao, cho thấy cơ cấu khách quốc tế đang có sự mở rộng và chuyển dịch.
Để duy trì đà tăng trưởng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai các chương trình xúc tiến, quảng bá tại những thị trường trọng điểm; tham gia và phối hợp tổ chức các hội chợ, triển lãm du lịch quốc tế. Hoạt động truyền thông trên nền tảng số và các kênh của đối tác nước ngoài cũng được tăng cường.
Nhiều địa phương từng bước đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng trải nghiệm và hướng tới gia tăng mức chi tiêu của du khách. Các loại hình du lịch chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng, thể thao, MICE và du lịch ban đêm tiếp tục được xác định là những dòng sản phẩm có nhiều dư địa phát triển.
Trong chuyển đổi số, ngành du lịch đang triển khai kết nối dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; thúc đẩy định danh, xác thực điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đang xây dựng nền tảng số dùng chung quốc gia về quản trị, kinh doanh du lịch và hệ thống dữ liệu số của ngành.
Tuy nhiên, sản phẩm du lịch tại một số địa phương còn thiếu tính đặc trưng và khác biệt. Khả năng cạnh tranh, tạo giá trị gia tăng và vươn ra thị trường khu vực, quốc tế chưa tương xứng với tiềm năng. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội cũng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Mỗi địa phương cần có sản phẩm đặc trưng
Tại phiên họp Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch ngày 28/9, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã có chỉ đạo về hai nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch trong quý IV/2026.
Trước hết, toàn ngành phải tăng tốc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch năm 2026. Cùng với đó là triển khai đồng bộ, quyết liệt Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, tạo nền tảng cho giai đoạn từ năm 2027.

Khách du lịch tham quan tranh dân gian tại Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai năm 2026. Ảnh: Diệu Linh
Phó Thủ tướng yêu cầu việc triển khai Nghị quyết phải gắn với từng nhiệm vụ, cơ quan thực hiện, thời hạn hoàn thành và sản phẩm đầu ra; tránh tình trạng xây dựng kế hoạch chung chung, dàn trải.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW. Chương trình xác định cụ thể các nhiệm vụ trọng tâm, cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm và tiến độ thực hiện.
Một trong những yêu cầu cấp thiết là rà soát, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách và nghiên cứu cơ chế đặc thù cho ngành du lịch. Do đây là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, việc tháo gỡ điểm nghẽn không thể chỉ giới hạn trong sửa đổi Luật Du lịch mà cần được thực hiện đồng bộ với các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, giao thông, môi trường, xuất nhập cảnh và tài chính.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao phối hợp với các bộ, ngành rà soát toàn bộ nhiệm vụ trong Nghị quyết số 26-NQ/TW; phân định rõ nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ và từng bộ để có phương án xử lý phù hợp.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 phải được hoàn thiện trong tháng 12/2026, tạo định hướng thống nhất cho quá trình triển khai Nghị quyết.
Cùng với hoàn thiện thể chế, các địa phương được yêu cầu xây dựng ít nhất một sản phẩm du lịch đặc trưng, tiêu biểu dựa trên lợi thế về văn hóa, di sản, cảnh quan và điều kiện tự nhiên. Sản phẩm phải có khả năng làm mới, phát triển thành thương hiệu và đóng góp thực chất vào mục tiêu chung của ngành.
Các chỉ tiêu về lượng khách, tổng thu, số lượng buồng lưu trú, việc làm và mức đóng góp của du lịch vào nền kinh tế cần được lượng hóa theo từng năm. Đây sẽ là căn cứ để các bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch, đồng thời kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
Ngành du lịch cũng cần chuyển từ cách làm riêng lẻ, phân mảnh sang liên kết các nguồn lực trong một hệ thống thống nhất, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Trong những tháng cuối năm, các nhiệm vụ được ưu tiên gồm phát triển sản phẩm chất lượng cao, hướng tới nhóm khách có khả năng chi tiêu lớn; đổi mới xúc tiến, quảng bá; mở rộng thị trường; nâng cao chất lượng vận chuyển và dịch vụ; bảo đảm an ninh, an toàn và xây dựng môi trường du lịch văn minh.
Việc hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026 không chỉ phụ thuộc vào số lượng khách mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị thu được từ mỗi thị trường, chất lượng trải nghiệm và sức cạnh tranh của sản phẩm. Đây cũng là nền tảng để du lịch Việt Nam chuyển dần từ tăng trưởng theo quy mô sang phát triển theo chiều sâu, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao.
