Du lịch Việt trước thách thức biến đổi khí hậu toàn cầu: Bài 1 - Thử thách và cơ hội

Du lịch Việt Nam đứng trước ngã rẽ quan trọng: đổi mới để thích ứng hay chấp nhận tụt hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng khốc liệt.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng khốc liệt, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên tác động trực diện tới các điểm đến, du lịch Việt Nam đứng trước ngã rẽ quan trọng: đổi mới để thích ứng hay chấp nhận tụt hậu?

Chuyên trang Tiêu dùng - Tạp chí Gia đình Việt Nam triển khai tuyến bài viết mang tên: "Du lịch Việt trước thách thức biến đổi khí hậu toàn cầu" nhằm phân tích những thách thức của ngành du lịch nước nhà trong giai đoạn mới từ đó đưa ra những giải pháp vượt khó.

Bài 1: Thử thách và cơ hội

Nước biển dâng, xâm nhập mặn, mưa lũ cực đoan và thời tiết bất thường xuất hiện với tần suất ngày càng dày hơn, cường độ mạnh hơn đang tạo áp lực lớn lên nhiều lĩnh vực. Trong đó, du lịch là một trong những ngành dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu bởi hầu hết hoạt động khai thác du lịch của Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có.

Phép thử cho ngành du lịch

Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km cùng hệ sinh thái đa dạng, nhiều điểm đến của Việt Nam đang ở “tuyến đầu” trước các rủi ro khí hậu.

Theo PGS. TS. Lê Văn Tấn, Phó trưởng khoa, Phụ trách Khoa Du lịch, Trường đại học Công đoàn, biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và cảnh quan du lịch - yếu tố cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến. Các hiện tượng thời tiết cực đoan không chỉ làm suy giảm giá trị cảnh quan tự nhiên mà còn đe dọa sự an toàn của du khách và cộng đồng địa phương.

“Gia tăng thiên tai, xói lở bờ biển, nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp đến du lịch biển, du lịch sinh thái và mùa vụ du lịch. Đồng thời, chi phí vận hành, bảo hiểm và bảo tồn tài nguyên du lịch cũng tăng lên rõ rệt”, PGS. TS. Lê Văn Tấn cho biết.

Những nhận định này đã được phản ánh rõ qua thực tế tại nhiều địa phương. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mực nước biển tại Việt Nam đã tăng trung bình khoảng 3,5mm mỗi năm trong hơn một thập kỷ qua, đe dọa nhiều đô thị và điểm đến ven biển như Hội An, Phú Quốc hay Cần Giờ.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng xâm nhập mặn và sụt lún đất làm suy giảm diện tích rừng ngập mặn, nguồn nước và hệ sinh thái tự nhiên – những yếu tố nền tảng cho phát triển du lịch sinh thái.

Trong khi đó, các tỉnh ven biển miền Trung thường xuyên hứng chịu bão mạnh, triều cường và sạt lở khiến không ít khu nghỉ dưỡng bị hư hại, phải gia cố hoặc điều chỉnh quy hoạch. Ở khu vực miền núi, mưa lớn kéo dài, lũ quét và sạt lở đất làm gián đoạn hoạt động đón khách, ảnh hưởng đến an toàn và hình ảnh điểm đến.

Biến đổi khí hậu cũng làm xáo trộn tính mùa vụ của ngành. Nắng nóng kéo dài có thể kích thích nhu cầu du lịch biển trong ngắn hạn nhưng đồng thời gây quá tải hạ tầng, trong khi thời tiết thất thường khiến doanh nghiệp khó dự báo cao điểm – thấp điểm để xây dựng kế hoạch kinh doanh.

Xa hơn, sự suy giảm tài nguyên như san hô, rừng ngập mặn hay nguồn nước ngọt đang làm giảm sức hấp dẫn của nhiều sản phẩm du lịch, tác động trực tiếp đến trải nghiệm và khả năng quay trở lại của du khách.

Biến thách thức thành cơ hội

Trước sức ép ngày càng lớn từ khí hậu toàn cầu, câu hỏi đặt ra không chỉ là “ứng phó ra sao” mà là “chuyển đổi như thế nào” để đảm bảo phát triển dài hạn.

Theo PGS. TS. Lê Văn Tấn, ưu tiên hàng đầu hiện nay là quy hoạch du lịch, dù ngắn hạn hay dài hạn đều phải gắn với kịch bản biến đổi khí hậu. Điều đó bao gồm đầu tư hạ tầng và sản phẩm du lịch có khả năng thích ứng, đồng thời nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực theo hướng phát triển bền vững.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã chuyển hướng mạnh sang mô hình du lịch xanh và phát thải thấp. Chẳng hạn, Costa Rica nổi tiếng với du lịch cộng đồng gắn bảo tồn rừng nhiệt đới; New Zealand phát triển du lịch sinh thái có kiểm soát, hạn chế số lượng khách tại một số khu vực nhạy cảm; trong khi Hà Lan và Đan Mạch hướng đến mô hình điểm đến phát thải thấp, khuyến khích giao thông xanh và tiêu dùng bền vững.

“Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi các mô hình du lịch xanh này nhưng cần điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện tự nhiên, văn hóa và năng lực từng địa phương”, PGS. TS. Lê Văn Tấn nhấn mạnh.

Có thể thấy, những năm gần đây, xu hướng du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và du lịch trải nghiệm gắn với bản sắc địa phương đang mở ra hướng đi mới cho nhiều điểm du lịch trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Thay vì chỉ khai thác tài nguyên theo cách truyền thống, một số điểm đến đã chủ động điều chỉnh mô hình phát triển theo hướng thích ứng, coi thách thức khí hậu là động lực đổi mới.

Tại làng Tân Hóa (tỉnh Quảng Trị), nơi từng được xem là “rốn lũ” của miền Trung, người dân đã lựa chọn cách “sống chung với lũ” thay vì chỉ tìm cách chống chọi. Từ thực tế thường xuyên ngập sâu vào mùa mưa, mô hình nhà nổi có thể nâng theo mực nước được phát triển, vừa bảo đảm an toàn sinh hoạt, vừa trở thành sản phẩm du lịch độc đáo như homestay “ngủ trên mặt nước”, chèo thuyền khám phá hang động mùa lũ.

Với hướng đi này, tháng 10/2023, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã vinh danh Tân Hóa là “Làng du lịch tốt nhất thế giới”, ghi nhận một mô hình du lịch cộng đồng thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Hiện địa phương có hơn 130 người dân tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, thu nhập bình quân 6–12 triệu đồng mỗi tháng; mỗi năm đón khoảng 10.000–12.000 lượt khách, phần lớn là khách quốc tế.

Ở một số tỉnh miền Tây, các tour du lịch trải nghiệm biến đổi khí hậu cũng được xây dựng, đưa du khách đến những khu vực chịu tác động rõ nét của sạt lở, mất rừng phòng hộ hay xâm nhập mặn. Thông qua hành trình này, khách tham quan không chỉ khám phá cảnh quan mà còn hiểu rõ hơn về những thách thức môi trường và nỗ lực thích ứng của cộng đồng địa phương.

Song song với mô hình cộng đồng, các địa phương cũng đầu tư hạ tầng nhằm giảm thiểu rủi ro khí hậu đối với di sản và điểm đến. Dự án xây kè bảo vệ phố cổ Hội An (TP. Đà Nẵng) được đưa vào danh mục ưu tiên trong chương trình hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Công trình không chỉ góp phần hạn chế sạt lở mà còn kết hợp chỉnh trang, cải thiện cảnh quan sinh thái khu vực ven sông.

Tại TP. Huế, địa phương đã đầu tư lắp đặt hệ thống chống sét cho nhiều di tích quan trọng như lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Thiệu Trị và khu vực Đại Nội Huế, nhằm bảo vệ công trình trước diễn biến thời tiết cực đoan ngày càng khó lường.

Những mô hình trên cho thấy, khi được định hướng đúng và triển khai bài bản, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn có thể trở thành lợi thế cạnh tranh mới của điểm đến.

Những khoảng trống cần lấp đầy

Dù đã xuất hiện nhiều mô hình thích ứng hiệu quả tại một số địa phương song việc nhân rộng và chuyển đổi trên phạm vi toàn ngành vẫn đặt ra không ít thách thức.

Theo PGS. TS. Lê Văn Tấn, điểm nghẽn trước hết nằm ở thể chế khi chính sách giữa du lịch và lĩnh vực tài nguyên – môi trường chưa thực sự đồng bộ; quy hoạch dài hạn vẫn thiếu sự gắn kết chặt chẽ với các kịch bản khí hậu. Bên cạnh đó, dữ liệu khí hậu chuyên sâu phục vụ riêng cho ngành du lịch còn hạn chế, gây khó khăn cho công tác dự báo rủi ro và xây dựng phương án ứng phó.

Áp lực nguồn lực cũng là thách thức đáng kể. Đầu tư hạ tầng có khả năng chống chịu khí hậu, chuyển đổi năng lượng, cải tạo cơ sở lưu trú theo tiêu chuẩn xanh đòi hỏi chi phí lớn, trong khi đa số doanh nghiệp du lịch trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực tài chính còn hạn chế. Nguồn nhân lực am hiểu về du lịch bền vững và quản trị rủi ro khí hậu cũng chưa đáp ứng yêu cầu; tại nhiều địa phương, phát triển bền vững vẫn dừng ở khẩu hiệu hơn là chiến lược dài hạn.

Trong tiến trình này, vai trò của du khách ngày càng rõ nét. "Du khách là 'tác nhân thay đổi' thông qua lựa chọn sản phẩm xanh, hành vi tiêu dùng có trách nhiệm và tôn trọng môi trường, văn hóa địa phương", PGS. TS. Lê Văn Tấn chia sẻ. Khi nhu cầu dịch chuyển theo hướng bền vững, doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh mô hình kinh doanh để thích ứng.

Thực tế, xu hướng du lịch có trách nhiệm, giảm rác thải nhựa và hạn chế khai thác tài nguyên quá mức đã bắt đầu hình thành. Tuy nhiên, để trở thành dòng chảy chủ đạo, xu hướng này cần được hậu thuẫn bởi cơ chế khuyến khích đủ mạnh, truyền thông hiệu quả cùng hệ thống tiêu chuẩn, chứng nhận minh bạch.

Biến đổi khí hậu hiện không còn là kịch bản xa vời mà đã tác động trực tiếp đến nhiều điểm đến. Trong bối cảnh đó, phát triển xanh và tăng cường năng lực thích ứng không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là cơ hội để tái định vị hình ảnh du lịch Việt Nam trên bản đồ khu vực. Nếu chậm chuyển mình, nguy cơ hụt hơi trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi.

=> Mời quý độc giả đón đọc Bài 2: "Xanh hóa" để thay đổi dài hạn

Phương Anh

Nguồn Tiêu Dùng: https://tieudung.giadinhonline.vn/du-lich-viet-truoc-thach-thuc-bien-doi-khi-hau-toan-cau-ky-1--thu-thuc-va-co-hoi-d12469.html