Dữ liệu lớn và AI thay đổi cách phát hiện vi phạm về thuế

Ngành thuế đang đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu lớn và AI để phân tích rủi ro, phát hiện gian lận hóa đơn điện tử, hướng tới quản lý thuế minh bạch và hiệu quả hơn.

Thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và các mô hình kinh doanh mới ngày càng phổ biến. Ảnh: Lê Đông - TTXVN

Thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và các mô hình kinh doanh mới ngày càng phổ biến. Ảnh: Lê Đông - TTXVN

Theo cơ quan Thuế, tính đến giữa tháng 5 đã có hơn 25,6 tỷ hóa đơn điện tử đã được cơ quan này tiếp nhận và xử lý. Phía sau con số khổng lồ này không chỉ là kết quả của quá trình chuyển đổi số trong quản lý thuế, mà còn hình thành một "kho dữ liệu số" chưa từng có, mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới trong phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận về thuế.
Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và các mô hình kinh doanh mới ngày càng phổ biến, phương thức quản lý thuế truyền thống vốn dựa chủ yếu vào hồ sơ kê khai và hoạt động hậu kiểm đang bộc lộ nhiều hạn chế. Các giao dịch kinh tế diễn ra với quy mô lớn, tốc độ nhanh, trên nhiều nền tảng số, thậm chí xuyên biên giới, khiến các hành vi gian lận thuế cũng ngày càng tinh vi và khó nhận diện hơn.
Đó là lý do ngành thuế đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu, lấy phân tích rủi ro, trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (Machine Learning) làm nền tảng để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, thay vì chờ đến khi vi phạm xảy ra mới tiến hành thanh tra, kiểm tra.
Theo bà Nguyễn Thu Trà, Trưởng ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế (Cục Thuế), việc triển khai hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc đã tạo ra nguồn dữ liệu tập trung có quy mô rất lớn. Đây là nền tảng quan trọng để cơ quan Thuế nâng cao năng lực đối chiếu, phân tích và kiểm soát rủi ro.

Bà Nguyễn Thu Trà cho biết, nguồn dữ liệu lớn này giúp cơ quan Thuế có điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường đối chiếu, phân tích và kiểm soát rủi ro.
Nhưng khi công nghệ được ứng dụng sâu rộng trong hoạt động quản lý thì các đối tượng vi phạm cũng thay đổi phương thức hoạt động. Nếu như trước đây việc mua bán hóa đơn thường diễn ra giữa một vài doanh nghiệp thì nay đã xuất hiện các đường dây được tổ chức bài bản, sử dụng nhiều pháp nhân trung gian, nhiều tài khoản ngân hàng, nhiều chữ ký số, thậm chí ứng dụng công nghệ để che giấu dấu vết giao dịch.
Thời gian qua, công tác quản lý rủi ro, phân tích dữ liệu và kiểm tra thực tế, cơ quan Thuế đã nhận diện nhiều phương thức gian lận phổ biến. Trong số đó có tình trạng lập hóa đơn khống khi doanh nghiệp không phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ nhưng vẫn xuất hóa đơn nhằm hợp thức hóa chi phí, tăng số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ hoặc giảm thu nhập chịu thuế.
Một thủ đoạn khác là thành lập doanh nghiệp "ma" chỉ để mua bán hóa đơn. Những doanh nghiệp này gần như không có hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế, không có kho bãi, lao động hay tài sản cố định nhưng vẫn phát hành hóa đơn với doanh số rất lớn. Sau một thời gian ngắn hoạt động, doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc không còn tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, gây nhiều khó khăn cho công tác xác minh.
Ngoài ra, cơ quan Thuế cũng phát hiện nhiều trường hợp nâng khống giá trị hàng hóa, dịch vụ để tăng chi phí đầu vào, nâng số thuế được khấu trừ hoặc hoàn thuế; tạo lập các chuỗi giao dịch khép kín nhằm hợp thức hóa dòng hàng, quay vòng hóa đơn và che giấu nguồn gốc hàng hóa. Theo bà Nguyễn Thu Trà, các hành vi này không còn diễn ra đơn lẻ mà ngày càng có xu hướng hình thành những mạng lưới doanh nghiệp liên kết với phương thức hoạt động ngày càng tinh vi.
Thực tế đó buộc ngành thuế phải thay đổi tư duy quản lý. Thay vì kiểm tra đại trà, cơ quan Thuế đang chuyển sang mô hình quản lý theo rủi ro, tập trung nguồn lực vào đúng đối tượng có dấu hiệu vi phạm, đồng thời tạo thuận lợi cho những người nộp thuế chấp hành tốt.
Để nhận diện rủi ro ngay từ khi doanh nghiệp bắt đầu phát sinh giao dịch, Cục Thuế đã đưa vào vận hành hệ thống cảnh báo xuất hóa đơn theo hệ số K. Thay vì chờ đến khi thanh tra, hệ thống tự động đối chiếu lượng hóa đơn phát hành với quy mô vốn, số lao động, doanh thu, ngành nghề và năng lực hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Những trường hợp có sự chênh lệch bất thường sẽ được đưa vào diện phân tích chuyên sâu để đánh giá rủi ro.
Một bước tiến khác là việc ứng dụng công nghệ phân tích chuỗi đồ thị (Graph Analysis). Nếu trước đây cán bộ thuế chủ yếu kiểm tra từng doanh nghiệp riêng lẻ thì nay hệ thống có thể "vẽ" toàn bộ mạng lưới giao dịch thông qua dữ liệu hóa đơn điện tử, từ đó phát hiện những chuỗi giao dịch khép kín, dòng hóa đơn quay vòng hoặc các nhóm doanh nghiệp có hành vi tương đồng.
Theo bà Nguyễn Thu Trà, nhiều chuỗi giao dịch rủi ro lớn trong các lĩnh vực điện thoại, linh kiện điện tử, tinh bột sắn và vật liệu xây dựng đã được phát hiện nhờ phương pháp phân tích này. Kết quả không chỉ giúp nâng cao chất lượng công tác xét hoàn thuế mà còn là căn cứ quan trọng để thanh tra, kiểm tra và chuyển hồ sơ sang cơ quan công an xử lý đối với những vụ việc có dấu hiệu vi phạm hình sự.
Không dừng lại ở dữ liệu hóa đơn điện tử, ngành thuế đang mở rộng phạm vi quản lý sang phân tích dòng tiền. Theo ông Đặng Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế, kinh tế số, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Dòng tiền hiện được luân chuyển qua hệ thống ngân hàng, trung gian thanh toán, ví điện tử và các nền tảng số với quy mô ngày càng lớn.
Theo lãnh đạo Cục Thuế, nếu áp dụng phương thức quản lý truyền thống chủ yếu dựa trên kê khai thuế, hồ sơ kế toán và công tác hậu kiểm thì trong một số trường hợp chưa phản ánh đầy đủ bản chất của các giao dịch kinh tế.
Do đó, trong thời gian tới, dữ liệu hóa đơn điện tử sẽ được đối chiếu với dòng tiền từ ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển và các nền tảng số để xác định chính xác hơn nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh. Việc kết nối dữ liệu này sẽ hình thành "hệ sinh thái dữ liệu" của người nộp thuế, giúp nâng cao hiệu quả phân tích rủi ro và chỉ lựa chọn đúng đối tượng cần thanh tra, kiểm tra.
Đến nay, ngành thuế đã nắm thông tin của khoảng 250 triệu tài khoản ngân hàng, trong đó có khoảng 200 triệu tài khoản cá nhân. Tuy nhiên, ông Đặng Ngọc Minh khẳng định cơ quan Thuế không giám sát mọi giao dịch của người dân một cách máy móc. AI được sử dụng để sàng lọc dữ liệu, chỉ tập trung vào những trường hợp có dấu hiệu rủi ro lớn hoặc nghi vấn trốn thuế, rửa tiền theo quy định của pháp luật.
Theo các chuyên gia, việc chuyển từ phương thức quản lý dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu là xu hướng tất yếu của quản trị thuế hiện đại, trong bối cảnh thương mại điện tử và kinh tế số phát triển nhanh, nếu chỉ dựa vào cơ chế tự khai, tự nộp mà không áp dụng quản lý rủi ro sẽ tạo ra những khoảng trống lớn trong quản lý thuế.
Các chuyên gia cũng cho rằng, cơ quan Thuế cần phân loại người nộp thuế theo mức độ tuân thủ, xác định rủi ro đối với từng lĩnh vực để có biện pháp quản lý phù hợp. Đây cũng là phương thức nhiều quốc gia đang áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, trong đó việc kết nối dữ liệu từ các tổ chức tín dụng, nền tảng số và các cơ quan quản lý sẽ góp phần nâng cao năng lực nhận diện rủi ro, đồng thời giảm thiểu tình trạng thanh tra, kiểm tra dàn trải.
Từ góc độ người nộp thuế, nhiều doanh nghiệp cũng kỳ vọng việc ứng dụng dữ liệu lớn và AI sẽ góp phần thay đổi phương thức quản lý theo hướng minh bạch và công bằng hơn. Ông N.N.A đại diện một doanh nghiệp vận tại tại Hà Nội cho rằng điều doanh nghiệp mong muốn nhất là cơ quan Thuế phân loại đúng mức độ rủi ro.
"Những doanh nghiệp tuân thủ tốt, kê khai đầy đủ, sử dụng hóa đơn điện tử minh bạch nên được giảm tần suất thanh tra, kiểm tra. Khi cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào các đối tượng có dấu hiệu vi phạm, doanh nghiệp làm ăn chân chính sẽ có thêm thời gian và nguồn lực để phát triển sản xuất, kinh doanh", ông A chia sẻ.
Theo doanh nghiệp này, việc khai thác dữ liệu hóa đơn điện tử kết hợp với dữ liệu dòng tiền và các nguồn thông tin khác cũng sẽ góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn. Những doanh nghiệp chấp hành nghiêm quy định về thuế sẽ không còn phải cạnh tranh với các đơn vị lợi dụng hóa đơn khống hoặc che giấu doanh thu để giảm nghĩa vụ thuế.

Thùy Dương/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/du-lieu-lon-va-ai-thay-doi-cach-phat-hien-vi-pham-ve-thue/426681.html