Đưa công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp quy mô lớn

Phát triển giống mới, vaccine, chế phẩm sinh học và công nghệ xử lý môi trường là những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026-2035. Chương trình chú trọng gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường, tăng khả năng chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm.

Mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng, ứng dụng kỹ thuật canh tác hiện đại. Ảnh minh họa

Mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng, ứng dụng kỹ thuật canh tác hiện đại. Ảnh minh họa

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 4066/QĐ-BNNMT ngày 26/10/2026 về Chương trình thực hiện Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường, cụ thể hóa Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

Chương trình tập trung vào hoàn thiện chính sách, làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp. Mục tiêu là từng bước hình thành ngành công nghiệp sinh học có khả năng sản xuất ở quy mô lớn, tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh, phục vụ phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

Ưu tiên giống mới và chế phẩm sinh học

Trong trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi và thủy sản, Chương trình đặt mục tiêu phát triển 10–15 giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới, hướng đến năng suất, chất lượng cao, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải.

Các công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen và chọn giống chính xác được định hướng ứng dụng trong nghiên cứu, tạo giống. Cùng với đó là nhiệm vụ tiếp nhận, làm chủ công nghệ tiên tiến và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất hàng hóa.

Chương trình cũng đặt mục tiêu nghiên cứu, sản xuất 5–10 loại vaccine và chế phẩm sinh học thế hệ mới phục vụ chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật. Đây là nhóm sản phẩm phục vụ phòng, chống dịch bệnh, quản lý sinh vật gây hại và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Những ứng dụng trong cải thiện chất lượng đất, xử lý nước tưới, chăm sóc sức khỏe cây trồng, bảo quản và chế biến sau thu hoạch cũng được chú trọng. Với lĩnh vực môi trường, nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào ngăn ngừa ô nhiễm, phục hồi môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Việc phát triển nhiên liệu sinh học, vật liệu sinh học thân thiện với môi trường và khai thác phụ phẩm nông nghiệp được khuyến khích, góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Đối với nông nghiệp hữu cơ, các ứng dụng sinh học cần được lựa chọn theo yêu cầu của tiêu chuẩn áp dụng. Không thể mặc nhiên coi mọi giống mới, chế phẩm hay công nghệ sinh học đều phù hợp với sản xuất hữu cơ. Việc sử dụng phải được xem xét cụ thể về nguồn gốc, thành phần, quy trình tạo ra sản phẩm và điều kiện cho phép của từng tiêu chuẩn.

Gắn phòng thí nghiệm với doanh nghiệp

Để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, Chương trình dành trọng tâm cho phát triển nhân lực và hạ tầng khoa học.

Mục tiêu đặt ra là đào tạo, bồi dưỡng 500 cán bộ, nghiên cứu viên trình độ cao về công nghệ sinh học và 2.000 lượt kỹ thuật viên, cán bộ quản lý thuộc phạm vi Bộ.

Về cơ sở vật chất, Chương trình dự kiến đầu tư, nâng cấp 5 phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Các lĩnh vực ưu tiên gồm công nghệ gen, tế bào, vi sinh vật, enzyme và protein; chẩn đoán bệnh, kiểm tra chất lượng vaccine và chế phẩm sinh học.

Bên cạnh đó, 5 phòng thí nghiệm trung tâm hoặc phòng thí nghiệm kiểm định chất lượng nông, lâm, thủy sản được đặt mục tiêu đầu tư, nâng cấp, phục vụ kiểm định chất lượng và đánh giá an toàn sinh học.

Hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cũng sẽ được phát triển, kết nối với dữ liệu quốc gia và chuyên ngành. Nền tảng số và trí tuệ nhân tạo được định hướng phục vụ nghiên cứu, quản lý, truy xuất nguồn gốc và thương mại hóa sản phẩm, đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin.

Đáng chú ý, Chương trình đặt mục tiêu tăng tối thiểu 50% số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học. Các hoạt động hỗ trợ bao gồm xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và đưa sản phẩm vào sản xuất, kinh doanh.

Liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và vùng sản xuất là một nhiệm vụ quan trọng. Khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu, kết quả nghiên cứu có thêm cơ sở để đáp ứng yêu cầu về chất lượng, giá thành và khả năng sản xuất ở quy mô lớn.

Mở rộng ứng dụng đi đôi với an toàn sinh học

Cùng với thúc đẩy nghiên cứu, Chương trình đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung đánh giá, quản lý rủi ro đối với sản phẩm công nghệ gen; chuẩn hóa hệ thống giám định, phát hiện sinh vật biến đổi gen và xây dựng cơ chế giám sát sau cấp phép.

Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường sẽ được rà soát, hoàn thiện. Đây là cơ sở phục vụ kiểm soát chất lượng, đánh giá mức độ an toàn và quản lý quá trình ứng dụng.

Trong hợp tác quốc tế, trọng tâm là kết nối với các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế để tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, thiết bị và quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nguồn lực từ hợp tác công tư, vốn ODA, vốn vay ưu đãi, viện trợ không hoàn lại và các nguồn hợp pháp khác được định hướng huy động cho quá trình triển khai.

Vụ Khoa học và Công nghệ được giao làm đầu mối tham mưu, theo dõi, đôn đốc và tổng hợp kết quả thực hiện. Các đơn vị thuộc Bộ xây dựng kế hoạch theo nhiệm vụ, phối hợp với địa phương, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp để tổ chức thực hiện.

Hiệu quả của Chương trình cần được thể hiện ở những sản phẩm sử dụng được trong thực tế: giống phù hợp với điều kiện sản xuất, chế phẩm có chất lượng ổn định, công nghệ giúp xử lý môi trường và tận dụng phụ phẩm với chi phí hợp lý. Khi giải quyết được những nhu cầu cụ thể ấy, công nghệ sinh học mới có điều kiện mở rộng ứng dụng và đóng góp lâu dài cho nền nông nghiệp xanh.

PV

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/dua-cong-nghe-sinh-hoc-vao-san-xuat-nong-nghiep-quy-mo-lon-18282.html