Đưa di sản thành nguồn tài nguyên bền vững của điện ảnh
Thực tiễn từ hàng loạt dự án điện ảnh gần đây đặt ra bài toán: cần một hành lang pháp lý rõ ràng trong việc kết hợp giữa phim trường hiện đại và khai thác di sản. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà làm phim lẫn cơ quan quản lý di tích chủ động hợp tác, phát huy tối đa giá trị của cả hai bên.
Thách thức từ bối cảnh
Câu chuyện phim trường được nhắc đến khá sôi nổi tại tọa đàm “Điện ảnh và di sản - Từ ươm mầm tài năng đến phát triển công nghiệp sáng tạo” do Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam tổ chức tại Hà Nội. Với những người làm phim, câu hỏi không còn là có phim trường hay chưa, mà là dựng được gì, dựng đến đâu và khi nào phải tìm đến không gian lịch sử thật.
NSND Khải Hưng chia sẻ nỗi niềm về việc điện ảnh Việt Nam cần một phim trường đủ điều kiện để các dự án lịch sử có thể chủ động về bối cảnh.
Nhà sản xuất Nguyễn Trinh Hoan cho rằng, không nên xem phim trường và di tích ở thế lựa chọn một trong hai. Phim trường phù hợp với những bối cảnh có thể dựng mới; di tích cần được sử dụng ở những cảnh đòi hỏi không gian, kiến trúc và dấu tích thật.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là một trong những địa điểm nhận được nhiều đề nghị quay phim mỗi năm. Ảnh: THU HÀ
Phim Mưa đỏ là một ví dụ. Để tái hiện trận chiến 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị, ê-kíp dựng lại một phần chiến trường tại một địa điểm cách Thành cổ khoảng 4km.
Đạo diễn NSƯT Đặng Thái Huyền kể, phim tập trung vào nhân vật và câu chuyện, bối cảnh khi đó chỉ đóng vai trò phụ nên không cần quá lớn hay bắt buộc phải quá giống nguyên bản, dù vậy chi phí dàn dựng cũng chiếm một phần đáng kể. Hay như với phim Địa đạo, khoảng 250m đường hầm được dựng trên mặt đất vì không thể quay toàn bộ trong hệ thống địa đạo Củ Chi.
Ở phim Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh, đoàn phim hạn chế dựng phim trường mà chọn quay trong không gian thật tại Thung Nham (Ninh Bình). Đoàn phim phải xác định từ đầu chỗ nào có thể thay đổi, chỗ nào phải giữ nguyên và phối hợp đơn vị quản lý, chuyên gia trong quá trình quay.
Di sản bên cạnh là nguồn tài liệu để khai thác các giá trị văn hóa, ký ức, còn là những chất liệu quan trọng về không gian, bối cảnh để điện ảnh khai thác nhằm kể những câu chuyện mới. Tạo điều kiện để các đoàn phim tiếp cận những không gian di sản phù hợp, biến nơi đây thành những phim trường sẽ là cơ sở để điện ảnh, nhất là dòng phim lịch sử phát triển mạnh, đóng góp chung vào sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
TS Ngô Phương Lan
Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam
Khoảng trống quy định
TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, thông tin, mỗi năm đơn vị tiếp nhận đề nghị của hàng chục đoàn phim. Những trường hợp phù hợp được xem xét, chấp nhận nhưng đoàn phim phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ di tích...
Theo nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc, ngay từ đầu, đoàn phim và đơn vị quản lý di tích phải thống nhất cụ thể: phương án quay phim, nhu cầu bố trí trang thiết bị, thay đổi cho phù hợp kịch bản đến những cơ chế bảo vệ di sản bắt buộc phải tuân thủ… Khi biết trước phần nào được phép thay đổi, phần nào không được tác động, ê-kíp làm phim có thể chủ động xây dựng phương án sản xuất.
Ở góc độ bảo tồn, bà Phan Thị Thanh Hường, Trưởng ban Văn hóa, đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, cho biết, di sản có thể được sử dụng cho hoạt động sáng tạo nếu được khai thác có trách nhiệm. Một số nước đã xây dựng cách quản lý riêng đối với hoạt động quay phim tại di sản.
Ở Trung Quốc, việc quay phim thương mại tại di tích bị hạn chế. Thay vào đó, họ tập trung xây dựng phim trường lớn như Hoàng Điếm với các công trình mô phỏng nhiều giai đoạn lịch sử.
Hàn Quốc chấp nhận sử dụng một số di tích làm bối cảnh, gắn hoạt động quay phim với quảng bá văn hóa, du lịch và chính sách hỗ trợ. Campuchia cũng đã xây dựng hướng dẫn về hoạt động quay phim liên quan đến di sản từ năm 2024.
Việt Nam chưa có hạ tầng phim trường đủ lớn như Trung Quốc, trong khi đó việc quay tại di sản lại đang thiếu hướng dẫn cụ thể. Điều này khiến đoàn phim khó biết trước giới hạn đến đâu, còn đơn vị quản lý di tích cũng thiếu căn cứ cụ thể khi xem xét cấp phép cho một đoàn phim.
Theo nhà sản xuất Nguyễn Trinh Hoan, điều cần thiết hiện nay là nhà làm phim cần hiểu rõ mình muốn gì ở các cảnh quay liên quan đến di tích. Từ đó, đơn vị quản lý di tích có cơ sở để chuẩn bị các yêu cầu bảo vệ di sản trước khi chấp nhận cho thực hiện hay không. Chỉ khi có những quy chuẩn và hướng dẫn cụ thể từ khâu chuẩn bị, thì cảnh “đến đâu tính đến đó” mới bớt đi, đưa di sản thực sự trở thành nguồn tài nguyên bền vững cho điện ảnh, thay vì là một bài toán rủi ro cho cả hai bên.

