Đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng

Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia tiến tới từng bước tự chủ về công nghệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhiều Bộ, ngành chú trọng trong nhiệm kỳ tới, nhằm tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng.

Trong nhiệm kỳ, hoàn thành tối thiểu 5.000 km đường cao tốc

Ngày 21/1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Đảng bộ Bộ Xây dựng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã đề xuất thực hiện một số giải pháp về đột phá phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới.

Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành 3.345km tuyến chính cao tốc, 458km nút giao và đường dẫn, vượt mục tiêu đạt 3.000km cao tốc trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2021-2025 của Quốc hội, Chính phủ giao.

Đặc biệt, cả nước đã hoàn thành thông xe toàn tuyến cao tốc Bắc- Nam từ Cao Bằng đến Mũi Cà Mau, tiếp tục triển khai cao tốc Cà Mau- Cái Nước, các cao tốc trục ngang như Tân Phú- Bảo Lộc, cao tốc Quy Nhơn- Pleiku…

Cũng trong giai đoạn này, các Cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Phú Bài, Điện Biên hoàn thành đầu tư, nâng cấp cơ bản hoàn thành Cảng Hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 và đón chuyến bay kỹ thuật đầu tiên vào 19/12. Từ đó, nâng tổng công suất các cảng hàng không trên cả nước từ 92,4 triệu khách năm 2020 lên 155 triệu hành khách vào năm 2025, tăng 1,6 lần so với năm 2020...

Theo Bộ Xây dựng, nhiều khó khăn, vướng mắc đối với công trình, dự án đường sắt đã được quyết liệt tháo gỡ. Các tuyến đường sắt đô thị Bến Thành- Suối Tiên, Cát Linh- Hà Đông, đoạn trên cao tuyến Nhổn- ga Hà Nội đã được đưa vào khai thác, cơ bản hoàn thành dự án cải tạo nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh đoạn Vinh-Nha Trang và Nha Trang-Sài Gòn.

Đáng chú ý, hệ thống cao tốc liên vùng cùng sân bay Long Thành sẽ đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có năng lực kết nối cao trong khu vực, tạo nền tảng cho mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045.

Riêng năm 2025 có thể coi là một dấu mốc đặc biệt, khi lần đầu tiên cả nước tổ chức đồng loạt 3 đợt khởi công, khánh thành với hơn 560 công trình, dự án, tổng mức đầu tư trên 5 triệu tỷ đồng; trong đó rất nhiều các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trải dài khắp cả nước. Đây là minh chứng sinh động cho quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thúc đẩy đầu tư, coi phát triển kết cấu hạ tầng là nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Đồng chí Trần Hồng Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, tham luận về vấn đề “Đột phá mạnh mẽ phát triển kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, phát triển kết cấu hạ tầng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, như quy mô, chất lượng, tính đồng bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng còn hạn chế, chưa tạo được sự bứt phá đồng đều giữa các vùng miền… Các hạn chế, khó khăn này cần được tháo gỡ kịp thời để không gây cản trở mục tiêu về đột phá kết cấu hạ tầng, ảnh hưởng đến thực hiện các đột phá chiến lược và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Trên cơ sở chỉ ra những mặt tồn tại và hạn chế, Bộ trưởng Trần Hồng Minh đề xuất thực hiện một số giải pháp về đột phá phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới.

Trước hết, tiếp tục đổi mới công tác xây dựng thể chế pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy hoạch ngành, hệ thống chỉ tiêu phát triển ngành với tầm nhìn dài hạn, đi trước một bước mang tính ổn định lâu dài.

Trong nhiệm kỳ, sẽ tập trung các mục tiêu trọng tâm như: hoàn thành tối thiểu 5.000 km đường cao tốc; đưa năng lực hệ thống cảng biển lên trên 1,2 tỷ tấn, hệ thống cảng hàng không lên trên 155 triệu hành khách; và phấn đấu hoàn thành mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội sớm trước 2 năm và hoàn thành trên 1,6 triệu căn vào năm 2030 so với mục tiêu; nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn quốc lên 85-90% và phấn đấu đạt mục tiêu đô thị hóa trên 50% đến năm 2030.

Chuyển hướng từ huy động sang khơi thông và nuôi dưỡng các nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng. Hoàn thiện cơ chế “lấy hạ tầng nuôi hạ tầng” thông qua việc khai thác hiệu quả các quỹ đất để tái đầu tư, phát triển các công cụ tài chính mới như trái phiếu công trình, quỹ đầu tư hạ tầng để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và các định chế tài chính quốc tế; khuyến khích đầu tư tư nhân, đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) các lĩnh vực trọng yếu như cảng biển, cảng hàng không, hạ tầng giao thông đô thị.

Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia tiến tới từng bước tự chủ về công nghệ. Đẩy mạnh nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao ứng dụng và phát triển các giải pháp về công nghệ tiên tiến trong quá trình phát triển kết cấu hạ tầng.

Đặt mục tiêu cho doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước làm chủ công nghệ thi công đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, sân bay, nhà ga, cảng nước sâu để giảm phụ thuộc vào các nhà thầu nước ngoài; mà trước hết trong lĩnh vực vận hành khai thác và tiến tới từng bước làm chủ về công nghệ thiết kế, sản xuất linh kiện vật tư, lắp ráp toa xe, đầu máy; đẩy mạnh phát triển đô thị thông minh, giao thông thông minh, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, coi đây là hạ tầng cứng của nền kinh tế số…

Tiến tới xuất khẩu và xuất khẩu lớn về khoa học công nghệ

Cùng ngày, tại phiên thảo luận các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, thay mặt Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trình bày tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về vấn đề “Một số giải pháp đột phá đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình bằng tri thức và công nghệ số, trong đó, đổi mới sáng tạo là cơ chế trung tâm để chuyển tri thức và công nghệ số thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững.”

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh từ thu nhập trung bình tới thu nhập cao, Việt Nam phải dựa vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cả 3 động lực này đều được Đảng ta mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng. Với 3 động lực này, chúng ta có thể tăng trưởng 2 con số.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.

Từ chỗ thiếu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chúng ta sẽ tiến tới đủ, thừa, xuất khẩu và xuất khẩu lớn, giống như chúng ta đã làm được đối với nông nghiệp. Cách tiếp cận của Việt Nam là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh. Tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân…

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày tham luận tại Đại hội.

Để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, việc đầu tiên cần làm là đo lường sự đóng góp của bộ 3 này tới tăng trưởng GDP. Bộ Khoa học và Công nghệ coi đây là việc quan trọng đầu tiên và đang xây dựng phương pháp đo, ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đặt mục tiêu đo lường tác động của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tới tăng trưởng GDP. Đo lường hiệu quả còn là giải pháp cơ bản để chống lãng phí.

Với thực tiễn Việt Nam, trong giai đoạn từ nay tới năm 2031, thứ tự ưu tiên nên là chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ. Bộ Chính trị đã giao Chính phủ chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Chiến lược về quốc gia khởi nghiệp sáng tạo, toàn dân khởi nghiệp, một người có thể lập và vận hành doanh nghiệp với sự trợ giúp của các nền tảng số quốc gia.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ, thế giới đang có những làn sóng mới mà Việt Nam có thể tận dụng để tăng trưởng nhanh vì rất phù hợp với văn hóa, năng lực người Việt Nam. Và thể chế mới quyết định đối với đổi mới sáng tạo và phát triển.

Chi cho khoa học công nghệ, quan trọng là 1 đồng của Nhà nước phải kích hoạt được 3- 4 đồng của doanh nghiệp. Bộ Khoa học và Công nghệ đang hoàn thiện cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

Một cơ chế quan trọng khác để tăng tính hiệu quả của ngân sách khoa học công nghệ là thay vì chi cho nghiên cứu, sẽ đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu hoặc thưởng cho kết quả nghiên cứu có hiệu quả.

Để đảm bảo nuôi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, bao gồm nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học xã hội, chúng ta sẽ chi cho đầu vào tri thức và chấp nhận rủi ở đầu ra, nhưng trước mắt ngân sách này khoảng 15- 20% tổng ngân sách khoa học công nghệ.

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, thay đổi tư duy, nhận thức, cách tiếp cận, cách làm luôn là yếu tố đầu tiên quyết định thành công của những chủ trương lớn, mục tiêu cao.

Vân Anh- Thu Hằng

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/dua-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-tro-thanh-dong-luc-trung-tam-cua-tang-truong.html