Đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sốngQuán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng theo hướng hành động, bảo đảm hiệu quả thực chất

Ngày 23-1-2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 01-CT/TƯ về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, mở đầu đợt sinh hoạt sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhằm đưa nghị quyết vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả.

Thực hiện Chỉ thị, Báo Hànôịmới mở chuyên mục “Đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống”, tập trung làm rõ những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIV; phản ánh các mô hình hay, cách làm sáng tạo, gương điển hình trong tổ chức thực hiện ở Thủ đô và trên cả nước, góp phần lan tỏa tinh thần hành động, khơi dậy trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân trong xây dựng Hà Nội và đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập tầm nhìn chiến lược mới, những định hướng lớn, mục tiêu phát triển cao hơn và hệ quan điểm chỉ đạo mang tính hành động mạnh mẽ, hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, bền vững hơn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, từ tổng kết thực tiễn nhiều nhiệm kỳ cho thấy, hạn chế kéo dài và mang tính phổ biến không nằm ở khâu ban hành nghị quyết, mà ở khâu tổ chức thực hiện nghị quyết chưa đáp ứng yêu cầu, làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng...

Đảng viên Chi bộ 11, Đảng bộ xã Thư Lâm theo dõi truyền hình trực tiếp phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Đảng viên Chi bộ 11, Đảng bộ xã Thư Lâm theo dõi truyền hình trực tiếp phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tính hành động - Yêu cầu nổi bật của Nghị quyết Đại hội XIV

Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc ban hành nghị quyết đúng đắn là tiền đề quan trọng để định hướng phát triển đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra một quy luật có tính phổ quát, đó là: Nghị quyết dù đúng đến đâu, nếu không được tổ chức thực hiện nghiêm túc, khoa học, quyết liệt, thì cũng không thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất trong đời sống xã hội.

Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “chuyển mạnh từ tư duy chiến lược sang tổ chức thực hiện hiệu quả; lấy kết quả thực hiện làm thước đo năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Đây là sự phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.

Thực tiễn qua 40 năm đổi mới cho thấy, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết đúng đắn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên, như Văn kiện Đại hội XIV thẳng thắn chỉ ra: “Một số chủ trương, nghị quyết chậm được cụ thể hóa, tổ chức thực hiện còn hình thức, hiệu quả chưa cao; kỷ luật, kỷ cương trong thực thi chưa nghiêm”. Văn kiện Đại hội XIV không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn, mà còn nhấn mạnh yêu cầu hành động nhanh, làm đến nơi đến chốn, khắc phục triệt để căn bệnh hình thức, nói nhiều làm ít. Do đó, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV theo hướng hành động, bảo đảm hiệu quả, thực chất không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà là đòi hỏi mang tính sống còn đối với năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện nghị quyết, coi đây là trọng tâm, then chốt của quá trình lãnh đạo.

Nhận diện đúng thực trạng: “Tổ chức thực hiện nghị quyết là khâu yếu”

Biểu hiện chủ yếu: Tình trạng “khâu yếu” trong tổ chức thực hiện nghị quyết được biểu hiện trên nhiều phương diện: Thứ nhất, quán triệt nghị quyết còn nặng về hình thức. Việc học tập, quán triệt ở một số nơi còn thiên về truyền đạt nội dung, thiếu liên hệ trực tiếp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức, cá nhân. Thứ hai, chậm cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động khả thi. Không ít chương trình hành động còn mang tính sao chép, thiếu chỉ tiêu định lượng, thiếu phân công trách nhiệm rõ ràng. Thứ ba, tổ chức thực hiện thiếu quyết liệt, thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên; nói nhiều nhưng làm ít, làm không đến nơi đến chốn. Thứ tư, việc sơ kết, tổng kết còn nặng về báo cáo thành tích, chưa chú trọng đánh giá thực chất; trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, chưa được xác lập rõ ràng. Những biểu hiện này làm suy giảm hiệu lực của nghị quyết, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nguyên nhân cơ bản: Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ một trong những nguyên nhân quan trọng là “nhận thức về vai trò, ý nghĩa của khâu tổ chức thực hiện chưa đầy đủ; trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, chưa được đề cao đúng mức”. Bên cạnh đó, tư duy nhiệm kỳ, tâm lý an toàn, ngại đổi mới, ngại chịu trách nhiệm vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ. Khoảng cách giữa nghị quyết và thực tiễn chưa được thu hẹp hiệu quả. Nhiều nghị quyết còn mang tính định hướng cao nhưng thiếu cơ chế cụ thể để triển khai. Kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện chưa nghiêm, công tác kiểm tra, giám sát chưa thực sự trở thành “thanh bảo kiếm” bảo đảm nghị quyết được thực thi.

Yêu cầu mới của Đại hội XIV: Hành động - hiệu quả - thực chất

Quán triệt nghị quyết phải gắn với trách nhiệm thực thi, theo hướng “hiểu đúng, làm đúng, làm đến cùng”. Quán triệt nghị quyết không dừng lại ở việc truyền đạt nội dung mà phải làm rõ: Nghị quyết yêu cầu điều gì, ai làm, làm như thế nào và kết quả cuối cùng là gì. Đại hội XIV nhấn mạnh: “Mỗi chủ trương, nghị quyết đều phải được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, giải pháp, sản phẩm cụ thể; xác định rõ chủ thể thực hiện và trách nhiệm cá nhân”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấy rõ vai trò, trách nhiệm và phần việc cụ thể của mình trong thực hiện nghị quyết. Do đó, quán triệt nghị quyết không chỉ là tiếp thu về mặt nhận thức, mà phải chuyển hóa thành cam kết hành động. Lấy hiệu quả thực chất làm tiêu chí đánh giá; chuyển mạnh từ “ban hành nghị quyết” sang “tổ chức thực hiện nghị quyết”.

Tinh thần xuyên suốt của Đại hội XIV là đề cao tính hành động, coi kết quả thực hiện là thước đo năng lực lãnh đạo. Do đó, mọi chủ trương phải nhanh chóng được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, đề án với lộ trình, nguồn lực và cơ chế giám sát rõ ràng. Để biến quyết tâm thành kết quả, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hành động; đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; kiên quyết khắc phục tình trạng “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, thậm chí “nói không đi đôi với làm”; thiếu kiểm tra, giám sát; đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp.

Giải pháp khắc phục căn bản “khâu yếu” trong tổ chức thực hiện nghị quyết

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế cụ thể hóa nghị quyết. Nghị quyết Đại hội XIV cần được triển khai theo chu trình khoa học: Một là, cụ thể hóa thành chương trình hành động; hai là, xây dựng kế hoạch thực hiện theo giai đoạn; ba là, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên; bốn là, đánh giá kết quả bằng tiêu chí định lượng.

Nghị quyết Đại hội XIV cần được cụ thể hóa theo nguyên tắc: “Rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ kết quả”. Chương trình hành động của các cấp phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn, tránh sao chép hình thức. Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu: “Bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu, nguồn lực và cơ chế thực hiện”, tránh tình trạng nghị quyết đúng nhưng không khả thi.

Thứ hai, đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán: “Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về kết quả thực hiện nghị quyết tại địa phương, cơ quan, đơn vị”. Người đứng đầu phải thực sự là “tổng chỉ huy” trong tổ chức thực hiện nghị quyết, chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả. Đây là giải pháp then chốt nhằm khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Thứ ba, gắn tổ chức thực hiện nghị quyết với công tác cán bộ. Kết quả thực hiện nghị quyết phải trở thành tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “đánh giá cán bộ thông qua sản phẩm cụ thể, hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân”.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết phải được tiến hành chủ động, thường xuyên, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các biểu hiện làm hình thức, làm đối phó. Việc xử lý vi phạm phải kịp thời, nghiêm minh, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Thứ năm, phát huy vai trò của nhân dân trong tổ chức thực hiện nghị quyết. Thực tiễn cho thấy, nơi nào phát huy tốt vai trò giám sát của nhân dân thì nơi đó nghị quyết được triển khai hiệu quả hơn. Do đó, cần công khai hóa mục tiêu, nội dung, kết quả thực hiện nghị quyết để nhân dân tham gia giám sát, phản biện.

Khắc phục tình trạng “tổ chức thực hiện nghị quyết là khâu yếu” là yêu cầu cấp bách và lâu dài. Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Đại hội XIV, nếu các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự chuyển từ tư duy nghị quyết sang tư duy hành động, từ nói nhiều sang làm đến nơi đến chốn, thì nghị quyết sẽ không chỉ nằm trên giấy, mà trở thành sức mạnh hiện thực, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dua-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang-vao-cuoc-song-quan-triet-trien-khai-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang-theo-huong-hanh-dong-bao-dam-hieu-qua-thuc-chat-731385.html