Đưa pháp luật đến gần đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi
Không chỉ là câu chuyện tổ chức bao nhiêu cuộc tuyên truyền, phát bao nhiêu tài liệu hay hỗ trợ bao nhiêu vụ việc, việc triển khai Nội dung 02 - Phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở, đăng ký biện pháp bảo đảm và bồi thường của Nhà nước cần được nhìn từ một câu hỏi rộng hơn: nguồn lực công đã được chuyển hóa thành kết quả và giá trị gì cho người dân?

Một Hội nghị tuyên truyền pháp luật cho người dân tại thôn Hảo, xã Xuân Bình, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Minh Anh
Nguồn lực được đầu tư cho những gì?
Đưa pháp luật đến gần đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trước hết là bài toán về nguồn lực. Để chính sách đi từ văn bản đến cơ sở, đến từng cộng đồng và người dân, cần sự đầu tư đồng bộ về ngân sách, nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện truyền thông và các hoạt động hỗ trợ trực tiếp.
Ngân sách nhà nước là một trong những nguồn lực quan trọng để tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật, tuyên truyền, vận động; xây dựng và duy trì các mô hình ở cơ sở; tổ chức trợ giúp pháp lý, hòa giải; hỗ trợ người dân tiếp cận các thủ tục và dịch vụ pháp lý thiết yếu.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở câu hỏi đã bố trí bao nhiêu kinh phí, mà còn ở việc nguồn lực được phân bổ cho đâu, đối tượng nào, nhiệm vụ gì và theo phương thức nào.
Đối với những địa bàn rộng, dân cư phân tán, điều kiện đi lại còn khó khăn, cùng một khoản kinh phí nhưng cách phân bổ và tổ chức thực hiện khác nhau có thể tạo ra kết quả khác nhau. Nguồn lực chỉ thực sự phát huy giá trị khi đến đúng địa bàn, đúng nhóm đối tượng và đáp ứng đúng nhu cầu.
Nhân lực cũng là một yếu tố quyết định. Cán bộ tư pháp, trợ giúp viên pháp lý, hòa giải viên, chính quyền cơ sở và người có uy tín trong cộng đồng là những lực lượng trực tiếp đưa chính sách pháp luật đến người dân. Nếu thiếu nhân lực hoặc bố trí chưa phù hợp, khoảng cách giữa chính sách và người thụ hưởng có thể tiếp tục tồn tại, ngay cả khi nguồn kinh phí đã được bố trí.
Cùng với đó là cơ sở vật chất và phương tiện truyền thông. Phổ biến pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không thể chỉ tính bằng số tài liệu được phát hành hay số hội nghị được tổ chức. Nội dung, ngôn ngữ và phương thức truyền tải phải phù hợp với trình độ, phong tục, điều kiện sinh hoạt và khả năng tiếp cận thông tin của từng địa bàn.
Như vậy, đầu tư cho pháp luật không đơn thuần là chi cho hoạt động tuyên truyền, mà là đầu tư cho một hệ thống giúp người dân biết luật, hiểu luật, sử dụng luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Từ chi phí đến giá trị

Băng rôn biểu ngữ tuyên truyền tại tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Minh Anh
Đánh giá một chương trình chính sách thường bắt đầu từ những con số: bao nhiêu hội nghị được tổ chức, bao nhiêu tài liệu được phát hành, bao nhiêu lượt người được tuyên truyền, bao nhiêu vụ việc được trợ giúp pháp lý, bao nhiêu vụ hòa giải thành.
Những chỉ số này cần thiết để phản ánh quy mô và mức độ triển khai. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chưa thể trả lời đầy đủ câu hỏi về hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Một địa phương tổ chức hàng trăm cuộc tuyên truyền cho thấy hoạt động đã được triển khai, nhưng chưa cho biết người dân hiểu pháp luật đến đâu, có biết sử dụng pháp luật khi phát sinh vấn đề hay không, và quan trọng hơn, những kiến thức đó có giúp phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền lợi hoặc giải quyết vướng mắc trong thực tế hay không.
Tương tự, số vụ trợ giúp pháp lý phản ánh mức độ cung cấp dịch vụ, nhưng chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà hoạt động này tạo ra. Một vụ việc được giải quyết đúng pháp luật có thể giúp người dân bảo vệ quyền sử dụng đất, tiếp cận chính sách, giải quyết tranh chấp hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đó, giá trị của kết quả không chỉ nằm ở bản thân vụ việc mà còn ở những chi phí, thời gian và hệ quả có thể được hạn chế.
Đối với hòa giải ở cơ sở cũng vậy. Số vụ hòa giải là một chỉ số về đầu ra, nhưng kết quả cần được nhìn rộng hơn: bao nhiêu vụ được giải quyết thành công, bao nhiêu tranh chấp được ngăn ngừa việc kéo dài, bao nhiêu trường hợp giảm được thời gian, chi phí và áp lực cho người dân cũng như cơ quan nhà nước.
Đầu tư đúng chỗ để pháp luật trở thành nguồn lực phát triển
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khả năng tiếp cận pháp luật không chỉ liên quan đến quyền được thông tin và tiếp cận công lý. Đây còn là một yếu tố góp phần tạo dựng môi trường phát triển ổn định.
Khi người dân hiểu và thực hiện đúng quy định pháp luật về đất đai, tài sản, tín dụng, giao dịch, hôn nhân và gia đình, chính sách xã hội..., nhiều tranh chấp và rủi ro pháp lý có thể được phòng ngừa từ sớm.
Khi người dân biết tìm kiếm trợ giúp pháp lý, những trường hợp yếu thế có thêm khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi hòa giải ở cơ sở hoạt động hiệu quả, nhiều mâu thuẫn có thể được giải quyết trước khi trở thành những vụ việc phức tạp hơn, qua đó giảm áp lực cho cơ quan nhà nước và chi phí xã hội.
Ở góc độ rộng hơn, pháp luật tạo ra một khuôn khổ để các quan hệ về đất đai, tài sản, giao dịch, chính sách và đời sống xã hội được thực hiện minh bạch, ổn định và có thể dự liệu. Khi người dân hiểu và có khả năng sử dụng pháp luật, chi phí phát sinh từ tranh chấp, vi phạm và giải quyết hậu quả cũng có điều kiện được hạn chế.
Vì vậy, giá trị của đầu tư cho pháp luật không chỉ nằm trong những con số của báo cáo quyết toán, số cuộc tuyên truyền hay số vụ việc được xử lý. Giá trị lớn hơn nằm ở những tranh chấp được phòng ngừa, những vụ việc được giải quyết, những quyền lợi được bảo vệ và những chi phí xã hội được giảm bớt.
Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận Nội dung 02 trong tổng thể yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Nguồn lực dành cho pháp luật cần được phân bổ theo nhu cầu thực tế, tổ chức theo hướng phối hợp, tránh trùng lặp và từng bước chuyển trọng tâm từ đo lường hoạt động sang đo lường kết quả.
