Đừng để phim lịch sử, cổ trang thành cuộc chơi đơn độc

Từ một dự án được ấp ủ suốt 10 năm, đầu tư quy mô lớn và mang theo tham vọng mở rộng cánh cửa cho dòng phim huyền sử Việt Nam, “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh” đã không đạt được kỳ vọng về doanh thu. Nhưng phía sau bài toán phòng vé còn là một câu hỏi lớn hơn: Nếu những người làm phim lịch sử, cổ trang liên tục phải tự mình giải bài toán từ nghiên cứu, phục dựng, sản xuất đến tìm kiếm khán giả, liệu họ còn đủ sức và đủ can đảm để tiếp tục? Có lẽ điều điện ảnh Việt cần lúc này không chỉ là những bộ phim lịch sử, cổ trang hay hơn, mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để dòng phim này có thể được đầu tư, thử nghiệm và phát triển bền vững

Một giấc mơ lớn…

Có lẽ không nhiều dự án điện ảnh Việt được chuẩn bị trong một thời gian dài như “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”. Bộ phim được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình ấp ủ trong khoảng 10 năm, lựa chọn một giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc - thời Đinh, thế kỷ X - trong bối cảnh tư liệu lịch sử còn khá ít ỏi. Phim được đầu tư với quy mô khoảng 100 tỷ đồng, quy tụ ê-kíp gồm nhiều tên tuổi trong nghề và còn được thực hiện với định dạng IMAX, một lựa chọn hiếm đối với phim nội địa.

Một cảnh trong phim “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”

Một cảnh trong phim “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”

Ngay trước ngày công chiếu, ê-kíp đã tìm cách đưa công chúng bước vào thế giới của Đại Cồ Việt thông qua những hình ảnh về phục trang, họa tiết, tạo hình nhân vật và hậu trường sản xuất. Phim được đầu tư kỹ lưỡng từ phục trang, bối cảnh đến những màn võ thuật, cho thấy tâm huyết của ê-kíp dành cho dòng phim lịch sử. Những gì hiện lên cho thấy một tham vọng của đoàn làm phim không chỉ kể một câu chuyện có yếu tố lịch sử, mà cố gắng kiến tạo cả một không gian Việt hơn 1.000 năm trước.

Nhưng phim ra rạp không được đón nhận như kỳ vọng. Tính đến giữa tháng 9/2026, bộ phim mới đạt doanh thu gần 40 tỷ đồng. Những ý kiến trái chiều xuất hiện ngay sau các suất chiếu sớm. Có khán giả ghi nhận phần hình ảnh, kỹ xảo, võ thuật, mỹ thuật và bối cảnh thiên nhiên; nhưng cũng có không ít ý kiến cho rằng kịch bản còn ôm đồm, nhịp phim chưa thật sự liền mạch, phần thoại và cách vận hành truyền thông chưa đạt kỳ vọng.

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã dành nhiều tình cảm cho “Hộ linh tráng sĩ”, nhưng bà cũng chỉ ra một điểm yếu đáng suy nghĩ: bộ phim thiếu một bàn tay biên tập đủ mạnh và quyết liệt để có thể cắt tỉa, biên tập cho kịch bản mạch lạc, hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh công sức sản xuất và mặt bằng chung của thị trường phim nội địa, về tổng thể “Hộ linh tráng sĩ” vẫn có những giá trị nền tảng xứng đáng nhận được sự ghi nhận.

So với những phim cổ trang trước đây, “Hộ linh tráng sĩ” cho thấy tham vọng của các nhà làm phim trong việc mở rộng dòng phim huyền sử cổ trang Việt với quy mô lớn. Phim được đầu tư công phu, với những đại cảnh thiên nhiên hùng vĩ kết hợp các màn đấu võ thuật mãn nhãn, hoành tráng. Bên cạnh đó, sự đầu tư trang phục, bối cảnh và không gian và sự tỉ mỉ nghiên cứu để phục dựng lại những nét đẹp của văn hoá Việt cách chúng ta hàng nghìn năm cho thấy tâm huyết và tình yêu văn hóa dân tộc của cả ê-kíp làm phim.

Cần một hệ sinh thái bền vững cho phim lịch sử, cổ trang

Đạo diễn Phạm Hoàng Nam viết trên trang cá nhân rằng, anh ngả mũ nể phục nhà sản xuất và thương các nhà làm phim, bằng tình yêu và niềm đam mê điện ảnh vô bờ, đã dám "húc đầu" vào một đề tài xương xẩu nhất là thể loại huyền sử - võ thuật - cổ trang. Theo anh, đây là thể loại đòi hỏi không chỉ kinh phí, khả năng tổ chức sản xuất, rủi ro tài chính… mà còn dễ bị mang ra mổ xẻ về nội dung lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, trang phục, bối cảnh… những điều mà với các nhà tuyển chọn của liên hoan phim và khán giả quốc tế lại không mấy quan tâm bằng khán giả trong nước.

Nói cách khác, “Hộ linh tráng sĩ” không chỉ là một bộ phim. Nó còn là một phép thử về khả năng của điện ảnh Việt khi muốn bước vào một địa hạt mà nhiều nền điện ảnh lớn trên thế giới đã xây dựng thành cả một ngành công nghiệp. Thực tế, Việt Nam gần như chưa có một hệ sinh thái hoàn chỉnh cho phim cổ trang, huyền sử quy mô lớn. Ở Hollywood, Trung Quốc hay Hàn Quốc, phim cổ trang có cả một hệ thống hỗ trợ từ xưởng phục trang, đạo cụ, vũ khí đến các đội ngũ chuyên về kỹ xảo, hành động. Khi một dự án mới bắt đầu, nhiều thứ đã tồn tại như những mắt xích chuyên nghiệp của ngành công nghiệp. Còn ở Việt Nam, rất nhiều công việc vẫn phải tự nghiên cứu, tự thiết kế, tự thử nghiệm.

Đạo diễn Johnny Trí Nguyễn cũng chia sẻ rằng ê-kíp gần như phải “vừa học vừa làm”, bởi có những thứ muốn làm cho đúng nhưng ở Việt Nam chưa có sẵn một hệ thống chuyên nghiệp để cứ thế mà dùng: "Chúng tôi vừa làm vừa học vì trước đó chưa có nhiều tiền lệ ở điện ảnh trong nước về quy mô dàn dựng và kỹ thuật như bộ phim này. Muốn làm được, mọi người phải thử nghiệm. Không có sự đồng lòng của đạo diễn, nhà đầu tư và đội ngũ sản xuất, dự án có lẽ không thể bắt đầu. Nếu khán giả đón nhận, thành công này sẽ tạo động lực để nhà làm phim mạnh dạn kể thêm những câu chuyện lấy cảm hứng về lịch sử. Còn nếu phim thất bại doanh thu, tôi nghĩ có thể sẽ mất nhiều năm nữa mới có một ê-kíp đủ can đảm đầu tư cho thể loại này".

Cần hệ sinh thái cho phim về đề tài lịch sử

Cần hệ sinh thái cho phim về đề tài lịch sử

Một nền điện ảnh phát triển cần một hệ sinh thái. Phim lịch sử, cổ trang lại càng cần sự cộng tác giữa nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hóa, biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất, họa sĩ thiết kế, chuyên gia phục trang, võ thuật và kỹ xảo. Việc tham vấn lịch sử không chỉ nên diễn ra khi phim đã được sản xuất, mà cần bắt đầu ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng và kịch bản. Thực tế “Hộ linh tráng sĩ” cho thấy ê-kíp từng tổ chức hội thảo với các chuyên gia lịch sử, cổ phục, điện ảnh và những người làm chính sách văn hóa để tìm cách tái hiện thời Đinh - một giai đoạn thiếu tư liệu. Đó là hướng đi cần được tiếp tục và chuyên nghiệp hóa. Tiếp theo là hệ sinh thái sản xuất. Nếu mỗi bộ phim cổ trang lại phải bắt đầu từ con số không, chi phí sẽ luôn rất cao và rủi ro luôn rất lớn. Cần từng bước hình thành các đơn vị, xưởng và đội ngũ chuyên biệt về phục trang cổ trang, đạo cụ, vũ khí, thiết kế bối cảnh, kỹ xảo và hành động. Một bộ phim thành công sẽ để lại không chỉ doanh thu, mà còn phải để lại năng lực sản xuất cho bộ phim tiếp theo.

Và điều quan trọng hơn là những bộ phim cổ trang, lịch sử cần một đời sống dài rộng hơn phòng vé. Chúng ta cần mở rộng biên độ khán giả, cách thức phát hành, đưa tác phẩm lên nền tảng số, truyền hình, trường học, các chương trình văn hóa, du lịch di sản… Từ đó, bộ phim tạo ra những cách tiếp cận khiến giới trẻ chủ động tìm hiểu lịch sử. Với “Hộ linh tráng sĩ”, đã có những khán giả trẻ sau khi xem phim tìm hiểu thêm về thời Đinh. Theo đạo diễn Phạm Hoàng Nam: “Chúng ta vẫn hy vọng chờ và trân trọng những thay đổi sáng tạo linh hoạt và tích cực của nhà nước và tư nhân trong việc đầu tư cho đầu vào - phần gốc của sản xuất phim ảnh là những phim trường chuyên nghiệp. Mong có nhiều phim cổ trang nữa để tiếp tục kể những huyền thoại lịch sử của dân tộc”. Và có lẽ, điều cần hơn là một thị trường biết trân trọng những nỗ lực mở đường, bởi nếu không, sẽ rất ít nhà đầu tư dám đi vào con đường đầy mạo hiểm và rủi ro này.

Có lẽ, điện ảnh Việt cũng đã đến lúc nhìn thấy nhu cầu cấp thiết phải xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh - nơi những câu chuyện của cha ông không còn là cuộc chơi đơn độc của một ê-kíp, mà trở thành một phần của năng lực văn hóa và công nghiệp điện ảnh quốc gia. Bởi lịch sử chỉ thực sự sống khi mỗi thế hệ tìm được một cách mới để kể lại nó. Và điện ảnh là cầu nối hữu hiệu nhất đưa văn hóa, lịch sử đến với khán giả trẻ hôm nay.

Việt Linh

Nguồn CAND: https://cand.vn/dung-de-phim-lich-su-co-trang-thanh-cuoc-choi-don-doc-post823121.html