Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những'ngôn ngữ biểu đạt mới'- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Những dự án như ballet “Đông Hồ”, ballet “Kiều”, ballet “Dó”, nhạc kịch “Giấc mơ Chí Phèo” hay chương trình “Gom Show” không chỉ là những thử nghiệm đơn lẻ, mà phản ánh một khát vọng lớn hơn: tạo ra các sản phẩm “made in Vietnam”giàu bản sắc và có thể đối thoại với thế giới.

Thách thức phía sau những thử nghiệm

Đời sống nghệ thuật nước nhà hai năm qua đã chứng kiến sự nỗ lực không ngừng của những ê kíp sáng tạo trẻ, với mong muốn mang đến những làn gió mới cho nghệ thuật. Đó là những vở ballet, nhạc kịch, hay những thể nghiệm trên chất liệu truyền thống như “Gom Show”, những dự án của nghệ sĩ Nguyễn Quốc Hoàng Anh, phát triển từ văn hóa dân gian như tuồng, chèo. Tuy nhiên, phía sau ánh đèn sân khấu và những lời tán thưởng là một hành trình không hề dễ dàng - nơi các nghệ sĩ phải tự mình giải những bài toán phức tạp về sáng tạo, tài chính, thị trường và cả niềm tin của công chúng.

Có thể nói, việc kết hợp văn hóa Việt với các loại hình nghệ thuật phương Tây như ballet hay nhạc kịch không đơn thuần là “đưa chất liệu Việt vào một hình thức ngoại lai”. Đó là những sáng tạo, tìm tòi của người nghệ sĩ để mang đến những tác phẩm mang dấu ấn văn hóa Việt.

Vở ballet “Kiều” không chỉ kể lại câu chuyện của Nguyễn Du bằng chuyển động hình thể, mà còn là làm sao để giữ được chiều sâu tâm lý, tinh thần nhân văn của nguyên tác trong một hình thức vốn thiên về biểu đạt trừu tượng. Tương tự, ballet “Đông Hồ” phải chuyển hóa những hình ảnh tĩnh của tranh dân gian thành ngôn ngữ động trên sân khấu, đồng thời giữ được tinh thần dân gian mà không rơi vào minh họa đơn giản. Và “Dó”, làm sao tôn vinh được những điệu múa dân gian bằng ngôn ngữ kinh điển của ballet?…Biên đạo múa Tuyết Minh chia sẻ khi chị làm vở ballet “Kiều”rằng: “Cái khó nhất không phải là đưa yếu tố Việt vào, mà là làm cho nó trở thành một phần tự nhiên của ngôn ngữ ballet. Nếu chỉ dừng ở mức trang trí, tác phẩm sẽ rất dễ bị gượng ép”.

Ở góc độ nhạc kịch, vở “Giấc mơ Chí Phèo”cũng đối mặt với thách thức tương tự. Nhân vật Chí Phèo vốn quen thuộc với độc giả Việt Nam, nhưng khi bước lên sân khấu nhạc kịch-một loại hình đòi hỏi nhịp điệu nhanh, âm nhạc giàu tính giải trí-thì việc giữ được chiều sâu bi kịch mà vẫn hấp dẫn khán giả là một bài toán không hề đơn giản.Nhạc sĩ Dương Cầm cùng ê kíp sáng tạo trẻ của anh đã làm xuất sắc điều đó khi thực hiện giấc mơ nhạc kịch Việt, kể những câu chuyện của người Việt bằng ngôn ngữ của phương Tây

Ngoài những khó khăn, vất vả trong hành trình sáng tạo, các dự án nghệ thuật đương đại ở Việt Nam gặp một rào cản lớn là vấn đề kinh phí. Ballet, nhạc kịch hay các chương trình trình diễn đa phương tiện đều là những loại hình đòi hỏi đầu tư lớn: từ dàn dựng sân khấu, thiết kế mỹ thuật, âm nhạc, ánh sáng cho đến chi phí tập luyện kéo dài nhiều tháng.Theo một nhà sản xuất sân khấu, chi phí để dựng một vở nhạc kịch quy mô trung bình có thể lên tới hàng tỷ đồng, trong khi khả năng thu hồi vốn lại rất hạn chế. Ở Việt Nam,các nghệ sĩ gần như không thể sống bằng nhạc kịch nếu chỉ trông chờ vào bán vé.

Không chỉ thiếu nguồn lực tài chính, nghệ sĩ còn thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ. Từ không gian biểu diễn đạt chuẩn, đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp, cho đến hệ thống quản lý bản quyền - tất cả đều còn manh mún. Điều này khiến nhiều dự án dù có ý tưởng tốt nhưng khó triển khai hoặc không thể duy trì lâu dài. Nhạc sĩ Dương Cầm mong muốn đưa “Giấc mơ Chí Phèo” vào TP Hồ Chí Minh, nhưng để tìm được một địa điểm đáp ứng được yêu cầu chất lượng rất khó khăn.

Một thực tế khác không thể phủ nhận là các tác phẩm mang tính thử nghiệm thường khó tiếp cận số đông khán giả. Trong bối cảnh thị trường giải trí bị chi phối bởi các sản phẩm nhanh, dễ tiếp cận, những vở ballet hay nhạc kịch mang tính nghệ thuật cao thường bị xem là “kén người xem”. “Không phải công chúng quay lưng với nghệ thuật hàn lâm, mà là họ chưa có cơ hội để hiểu và tiếp cận nó một cách đúng đắn. Nếu thiếu cầu nối, những tác phẩm này sẽ mãi nằm trong một vùng trũng khán giả”, biên đạo múa Tuyết Minh chia sẻ.

Thực tế cho thấy, ballet “Đông Hồ” cũng chỉ có vài suất diễn ra mắt, vở ballet “Kiều” được giới chuyên môn đánh giá cao những số lượng biểu diễn cũng khiêm tốn. Vở “Dó” sau hành trình 1 năm tìm các nguồn hỗ trợ cũng mới chỉ có 1 đêm diễn duy nhất ở Nhà hát Hồ Gươm… Còn “Gom Show”, các nghệ sĩ thu hẹp quy mô và nỗ lực để có lịch diễn đều đặn vào tối thứ 5, thứ 6 hàng tuần với lượng khán giả quy mô nhỏ. Duy chỉ có vở nhạc kịch “Giấc mơ Chí Phèo”đã có 10 đêm diễn ở Nhà hát Hồ Gươm và đang có lịch diễn trong tháng 7 tới. Nhưng 10 đêm diễn, với một vở nhạc kịch được đầu tư công phu, tốn kém và chất lượng vẫn là con số ít ỏi.

Khát vọng “made in Vietnam”

Dẫu vậy, điều đáng ghi nhận là phía sau những khó khăn ấy là một thế hệ nghệ sĩ mang tư duy mới, mong muốn tạo ra những sản phẩm mang bản sắc riêng. NSƯT Phan Lương - biên đạo múa của “Dó” chia sẻ: “Chúng tôi không muốn khán giả đến nhà hát chỉ để xem lại những tác phẩm của phương Tây. Chúng tôi muốn họ nhìn thấy chính mình-văn hóa của mình-trên sân khấu, nhưng bằng một ngôn ngữ hiện đại”.

Một cảnh trong vở “Giấc mơ Chí Phèo”.

Một cảnh trong vở “Giấc mơ Chí Phèo”.

Khát vọng này không chỉ mang ý nghĩa nghệ thuật, mà còn gắn với câu chuyện lớn hơn về bản sắc văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa. Khi các quốc gia đều tìm cách quảng bá “sức mạnh mềm” thông qua văn hóa, việc xây dựng những sản phẩm nghệ thuật có dấu ấn riêng là điều tất yếu.

Nhưng làm thế nào để những nỗ lực cá nhân không trở thành những “đốm lửa lẻ loi”? Đạo diễn Phạm Hoàng Nam chia sẻ khi xem ballet “Dó”: “Dó thổi lên sự hưng phấn và kích thích cảm hứng sáng tạo nghề của giới nghệ sĩ và trách nhiệm với việc bảo tồn, phát triển và truyền bá văn hóa dân tộc của giới doanh nhân, quản lý văn hóa”.

Tuy nhiên, để “Dó” không thổi đơn độc và không hụt hơi, bản thân “Dó” và ê kíp ngoài việc cần thêm thời gian hoàn thiện vở diễn qua việc cọ xát với khán giả để chỉnh sửa, cũng cần một chiến lược bài bản và đồng bộ để phát triển, kết hợp với sự ủng hộ của nhà nước, của truyền thông và sự ủng hộ của khán giả yêu văn hóa truyền thống đương đại”. Có lẽ đó cũng là vấn đề của những tác phẩm mang dấu ấn sáng tạo mới của các nghệ sĩ hiện nay. Nhiều chuyên gia cho rằng, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ rõ ràng hơn cho các dự án nghệ thuật đương đại, đặc biệt là những dự án mang tính thử nghiệm. Điều này có thể thực hiện thông qua các quỹ sáng tạo, chương trình đặt hàng tác phẩm, hoặc chính sách ưu đãi về thuế và cơ sở vật chất.

Thực tế, thời gian qua đã có sự nỗ lực đầu tư của các đơn vị tư nhân cho nghệ thuật. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh ngân sách nhà nước có hạn. Các chương trình biểu diễn hoàn toàn có thể trơ thành sản phẩm du lịch văn hóa, tạo ra giá trị kinh tế nếu được xây dựng bài bản.Từ đó, cần cải thiện những quy định về hợp tác công-tư để mở đường cho các sáng tạo mới đến được với công chúng. Ngoài ra, chúng ta cần phát triển các không gian sáng tạo,các trung tâm nghệ thuật độc lập,nơi để nghệ sĩ thử nghiệm, kết nối và phát triển ý tưởng. Đây cũng là cầu nối giúp nghệ thuật đến gần hơn với công chúng.

Điều quan trọng hơn, những dự án như ballet “Đông Hồ” hay “Giấc mơ Chí Phèo”… cần được nhìn nhận như một phần của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa. Khi được đầu tư đúng mức, chúng không chỉ phục vụ nhu cầu thưởng thức trong nước, mà còn có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu văn hóa. Hàn Quốc, Nhật Bản hay Trung Quốc đều đã thành công trong việc xây dựng các sản phẩm nghệ thuật mang bản sắc riêng để quảng bá ra thế giới. Việt Nam, với một nền văn hóa giàu chất liệu, hoàn toàn có tiềm năng làm điều đó.

Giấc mơ “made in Vietnam” của các nghệ sĩ, vì thế, không nên chỉ là nỗ lực cá nhân. Đó cần trở thành một mục tiêu chung - nơi Nhà nước, doanh nghiệp, giới chuyên môn và công chúng cùng tham gia kiến tạo. Bởi chỉ khi có một hệ sinh thái đủ mạnh, những sáng tạo hôm nay mới có thể đi xa hơn, trở thành những tác phẩm có đời sống lâu dài, góp phần định hình diện mạo mới cho văn hóa nghệ thuật Việt Nam trong thời đại hội nhập.

Như đạo diễn Phạm Hoàng Nam chia sẻ: “Xem “Dó” có cùng một cảm giác khi xem “Gom Show” hay “Giấc mơ Chí Phèo”... là ước muốn những ý tưởng và show diễn dạng này sẽ được sáng tạo ngày càng nhiều và phổ biến ngày càng rộng cho khán giả trong và ngoài nước. Vì các dự án này vẫn là dạng "thể nghiệm" tiên phong, nên chắc chắn sẽ được tiếp tục hoàn thiện qua mỗi lần công diễn để trở thành những "thương hiệu văn hóa".

Mỹ Hiền

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/so-tay/duong-dai-cua-nhung-sang-tao-moi-i802214/