E-magazine | Ngành Công Thương tạo nền tảng cho sản xuất thông minh

Hiện nay, phát triển sản xuất thông minh không chỉ là xu hướng công nghệ mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc ứng dụng tự động hóa, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo vào sản xuất giúp tối ưu vận hành, tiết giảm chi phí, kiểm soát chất lượng theo thời gian thực và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường.

Tại Quyết định số 2708/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ban hành Chương trình hỗ trợ, thúc đẩy sản xuất thông minh, chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại giai đoạn đến năm 2035 đã nêu rõ, thực hiện chuyển đổi kép, gắn chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh với chuyển đổi xanh, dùng công nghệ số để tối ưu hóa quá trình sản xuất, sử dụng tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và xây dựng các mô hình kinh doanh mới, kinh tế tuần hoàn, đóng góp vào quá trình tái cơ cấu của ngành Công Thương và duy trì tốc độ tăng trưởng mức hai con số cùng phát triển bền vững của quốc gia.

Để sản xuất thông minh đi vào thực tiễn, Chương trình xác định lấy doanh nghiệp là trung tâm, nhà nước đóng vai trò kiến tạo “sân chơi” bình đẳng và kết nối các thành phần trong hệ sinh thái, đồng hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ dựa trên nhu cầu thực tiễn, phù hợp với mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp.

Trong giai đoạn đầu, tập trung hỗ trợ các giải pháp có khả năng chứng minh hiệu quả nhanh chóng và rõ rệt về mặt tài chính; ưu tiên các dự án mang lại hiệu quả nhanh (Quick-win); trọng tâm vào các doanh nghiệp có tiềm năng, có tầm nhìn và định hướng phát triển khả thi, có triển vọng trở thành những doanh nghiệp số tiên tiến, điển hình.

Sản xuất thông minh đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Sản xuất thông minh đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Cùng với đó, Chương trình hướng tới triển khai đồng bộ, tiếp cận hệ thống; đầu tư trọng điểm vào nghiên cứu, làm chủ các công nghệ 4.0 có liên quan đến phát triển các nền tảng công nghệ cho mô hình nhà máy thông minh và chuyển đổi số trong công nghiệp và thương mại; liên tục cập nhật công nghệ tiên tiến, đặc biệt chú trọng khai thác lợi ích, thế mạnh của các công nghệ đột phá như AI, IoT, dữ liệu lớn.

Đẩy mạnh mô hình kết nối viện - trường - doanh nghiệp - trí tuệ chuyên gia, khai thác các nền tảng, giải pháp của Việt Nam phục vụ phát triển sản xuất thông minh và chuyển đổi số. Triển khai, tích hợp các chương trình nghiên cứu khoa học - công nghệ và phát triển sản phẩm mới, dịch vụ thương mại mới; các chương trình, kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Bộ nhằm tạo hiệu ứng đồng bộ thúc đẩy phát triển sản xuất thông minh, chuyển đổi số trong công nghiệp và thương mại.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là tạo hiệu quả đột phá trong hoạt động chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành Công Thương, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc tăng cường khả năng phát triển các sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, tạo các giá trị mới gắn với phát triển xanh và kinh doanh bền vững; thúc đẩy hiệu quả sản xuất - kinh doanh - thương mại theo hướng kết nối chuỗi giá trị số, hình thành lực lượng chủ chốt của ngành Công Thương trong quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hoàn thành việc xây dựng và triển khai áp dụng bộ chỉ số đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và khung kiến trúc chuyển đổi số công nghiệp và kiến trúc công nghệ của nhà máy thông minh; các doanh nghiệp được hỗ trợ cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng cơ bản phục vụ chuyển đổi số và phát triển sản xuất thông minh; trong đó, ít nhất 3.000 lượt doanh nghiệp được đào tạo, tập huấn các kỹ năng chiến lược, chuyên sâu về chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh thông qua các nền tảng trực tuyến và trực tiếp.

Các doanh nghiệp được tiếp cận hệ chuyên gia tự động tư vấn triển khai, tư vấn trực tiếp; trong đó, ít nhất 500 doanh nghiệp được hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, 200 doanh nghiệp được hướng dẫn, triển khai các giải pháp chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh đạt hiệu quả về năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, trở thành mô hình điểm để chia sẻ, nhân rộng trên toàn quốc.

Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp, Chương trình hướng tới xây dựng hướng dẫn triển khai lộ trình chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh cho một số ngành, lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghiệp chế biến chế tạo có lợi thế xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ. Hình thành một số tổ chức khoa học và công nghệ mạnh, dẫn dắt trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và hỗ trợ doanh nghiệp về chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh.

Đến năm 2035, quy mô hỗ trợ tiếp tục được mở rộng. Chương trình đặt mục tiêu 5.000 lượt doanh nghiệp được đào tạo, tập huấn các kỹ năng chiến lược, chuyên sâu về chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh thông qua các nền tảng trực tuyến và trực tiếp; ít nhất 500 doanh nghiệp được hướng dẫn, hỗ trợ tăng cường về chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh đạt hiệu quả về năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, trở thành mô hình điểm để chia sẻ, nhân rộng trên toàn quốc; hoàn thành việc xây dựng các cơ sở dữ liệu, nền tảng dùng chung phục vụ quá trình chuyển đổi số và phát triển thông minh của các doanh nghiệp trong ngành Công Thương…

Nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất.

Nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Đào Trọng Cường, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) cho biết, vai trò, hiệu quả mà chuyển đổi số mang lại cho các doanh nghiệp là không thể phủ nhận. Quá trình chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường ứng dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)…) vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Từ đó, giúp doanh nghiệp thiết lập được hệ thống sản xuất, kinh doanh có tính linh hoạt và hiệu quả cao, tối ưu chi phí vận hành, đồng thời, giúp các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác và kịp thời.

Không chỉ là vấn đề nâng cao hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng các công nghệ hiện đại mang đến cơ hội cho các doanh nghiệp trong tạo ra những giá trị hoàn toàn mới bằng việc hình thành những sản phẩm, dịch vụ mới, thậm chí những mô hình kinh doanh mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công nghệ số cũng giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản địa lý để đưa sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng trên khắp thế giới. Đây là điều mà trước đây rất khó khăn với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa ở những địa bàn khó khăn.

"Quá trình chuyển đổi số không chỉ là vấn đề mang công nghệ nào vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà các doanh nghiệp nên nhìn nó như một yếu tố, điều kiện mới tác động tới mỗi doanh nghiệp. Đây cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp xem lại định hướng phát triển, đưa ra những kế hoạch để hiện thực hóa những cơ hội" - ông Đào Trọng Cường nói, đồng thời nhấn mạnh, việc nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đưa các công nghệ mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện chuyển đổi số, doanh nghiệp sẽ có cơ hội để tiến nhanh về phía trước, tạo ra những bước phát triển đột phá.

Thực tế thời gian qua, nhiều doanh nghiệp ngành Công Thương đã chủ động ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất, từng bước chuyển đổi phương thức quản lý, điều hành và tổ chức sản xuất. Từ tự động hóa dây chuyền, số hóa quy trình đến khai thác dữ liệu trong quản trị, những thay đổi này đang mở ra hướng đi mới cho các đơn vị sản xuất trong nước, tạo tiền đề để nâng cao hiệu quả hoạt động và thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Đơn cử, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã cơ bản hoàn thành mục tiêu chuyển đổi số theo Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, trở thành doanh nghiệp số vào đầu năm 2025 với một số kết quả tiêu biểu.

Cụ thể, EVN đã cắt giảm, tối ưu các thủ tục cung cấp dịch vụ cũng như giảm toàn bộ nhân lực thủ công ghi chỉ số điện và thu tiền điện tại nhà, đồng thời, chuyển đổi sang công tơ điện tử để thu thập dữ liệu tự động nhanh chóng. Nhờ đó, trên 99% khách hàng thanh toán tiền điện không sử dụng tiền mặt. Ước tính hiệu quả chuyển đổi số giúp mỗi năm tiết kiệm khoảng 3.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, EVN đã đổi mới ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý vận hành hệ thống điện, 100% các trạm biến áp 110/220 kV chuyển sang vận hành không người trực, từng bước chuyển đổi trạm 500kV. EVN cũng đã đưa các trung tâm giám sát từ xa lưới điện phân phối, truyền tải vào hoạt động, trong đó đẩy mạnh ứng dụng AI, Big Data, UAV… vào vận hành lưới điện từ 110kV trở lên.

Ông Đinh Thế Phúc, Thành viên Hội đồng thành viên EVN thông tin, mục tiêu đến năm 2030, EVN là doanh nghiệp hàng đầu trong khu vực về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực điện lực và hướng tới là thiết lập hệ sinh thái “điện lực thông minh”.

Không chỉ EVN, việc ứng dụng các công nghệ số hiện đại đang ngày càng lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một phần trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị của nhiều doanh nghiệp ngành Công Thương. Trong đó, AI là nhóm công nghệ có mức độ lan tỏa rộng nhất tại các tập đoàn, doanh nghiệp.

Tiêu biểu, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thí điểm AI camera tại hiện trường mỏ; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã phát triển dữ liệu khách hàng, nền tảng thương mại số, định hướng AI trong tư vấn nông nghiệp, chẩn đoán sâu bệnh qua hình ảnh, công thức phân bón và phân tích thị trường... 

Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) xác định AI chuyên ngành, Digital Twin, cloud/HPC là nhóm công nghệ chủ lực trong danh mục 34 sản phẩm công nghệ chiến lược, gắn với khoan, địa chất mỏ, bể trầm tích, nhà máy điện, nhà máy lọc dầu, nhà máy đạm.

Mức độ ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn trong doanh nghiệp ngành Công Thương đang có bước tiến rõ rệt.

Mức độ ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn trong doanh nghiệp ngành Công Thương đang có bước tiến rõ rệt.

TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đánh giá, mức độ ứng dụng các công nghệ tiên tiến như AI, IoT và dữ liệu lớn trong doanh nghiệp ngành Công Thương đang có những bước tiến rõ rệt và ngày càng lan tỏa mạnh mẽ. Không chỉ các tập đoàn lớn, mà ngày càng nhiều doanh nghiệp đã chủ động tiếp cận, từng bước đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Nhờ đó, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế được cải thiện đáng kể, mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh các doanh nghiệp lớn, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa dù còn không ít khó khăn cũng đang thể hiện sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu từ những giải pháp phù hợp với quy mô, từng bước số hóa quy trình, tích lũy dữ liệu và nâng cao năng lực quản trị. Đây là tín hiệu rất đáng khích lệ, cho thấy xu hướng ứng dụng công nghệ không còn là lựa chọn mà đã trở thành nhu cầu tự thân của doanh nghiệp.

Ông Dương Đức Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa (Bộ Công Thương) nhận định, đối với Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa, bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Từ thực tiễn đồng hành với doanh nghiệp, tôi nhận thấy sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai, nhận thức và nhu cầu của doanh nghiệp đối với chuyển đổi số, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất đã có những chuyển biến rõ hơn. Doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu quy trình sản xuất và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo Bộ Công Thương, trong thời gian tới, Bộ sẽ tập trung đẩy mạnh triển khai các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ quản lý trong các lĩnh vực: Chuyển đổi số và sản xuất thông minh, năng suất chất lượng, công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, khai khoáng… Trong đó, sẽ tập trung triển khai thành các cụm/chuỗi nhiệm vụ quy mô lớn theo mô hình 3 nhà; hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đánh giá sẵn sàng công nghệ, nâng cấp theo chuỗi, thử nghiệm, đo lường, tiêu chuẩn, sản xuất thông minh và sản xuất xanh; phát triển trung tâm thử nghiệm, phòng thí nghiệm dùng chung và mạng lưới nhà cung ứng trong nước.

Mới đây, Bộ Công Thương đã phê duyệt nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược để tuyển chọn thực hiện đối với 1 nhiệm vụ: “Nghiên cứu phát triển phần mềm nền tảng thị giác máy tính và trí tuệ nhân tạo phục vụ sản xuất thông minh trong công nghiệp chế biến, chế tạo”, với mục tiêu nhằm phát triển và làm chủ được phần mềm nền tảng thị giác máy tính và trí tuệ nhân tạo phục vụ sản xuất thông minh trong công nghiệp chế biến, chế tạo.

Ông Trần Việt Hòa, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, việc xây dựng một nền công nghiệp có nền tảng vững chắc, năng lực tự chủ cao và khả năng thích ứng linh hoạt trở thành điều kiện tiên quyết để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Theo đó, Cục Công nghiệp sẽ triển khai nhiều nhóm giải pháp. Cụ thể, xây dựng nền tảng công nghiệp hiện đại theo hướng số hóa, xanh hóa, và nâng cấp chuỗi giá trị gồm: Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số toàn bộ hệ thống sản xuất, tự động hóa, IoT, AI, nhất là thúc đẩy nhà máy thông minh đối với dệt may, điện tử, cơ khí, tăng năng suất và chất lượng để thoát khỏi mô hình gia công truyền thống.

Đồng thời, phát triển bền vững ngành chế biến sâu khoáng sản, hiện đại hóa ngành công nghiệp luyện kim đồng thời gắn kết phát triển chuỗi giá trị đất hiếm. Điều này có ý nghĩa chiến lược không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh năng lượng, an ninh công nghiệp và vị thế quốc gia.

Mặt khác, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC), từ lắp ráp sang thiết kế linh kiện, công nghệ lõi, tham gia các mảng giá trị cao như R&D, kiểm thử, logistics thông minh, kết nối sâu với các tập đoàn đa quốc gia thông qua “thu hút FDI có điều kiện”.

Quỳnh Nga - Hồng Thịnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/e-magazine-nganh-cong-thuong-tao-nen-tang-cho-san-xuat-thong-minh-476489.html