EU áp dụng quy định mới về nhập khẩu: Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam bị ảnh hưởng thế nào?
Liên minh châu Âu (EU) mới đây đưa 3 quy định chặt chẽ đối với các doanh nghiệp nhập khẩu vào thị trường này, nhằm mục đích thắt chặt các quy định về môi trường, hướng đến phát triển bền vững.

Ảnh minh họa.
Ba quy định này bao gồm Quy định chống phá rừng (EUDR), Thẻ vàng thủy sản (IUU) và cơ chế điều chỉnh Carbon biên giới (CBAM). Chứng khoán KBSV đã phân tích các trường hợp cụ thể và những ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, với quy định chống phá rừng (EUDR): EU yêu cầu các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa vào EU cần đảm bảo rằng các mặt hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ đất đai như cao su, cà phê, dầu cọ, gỗ, cacao... phải chứng minh không gây suy thoái rừng hoặc chặt phá rừng kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Thời điểm áp dụng: Ngày 17 tháng 12 năm 2025, Liên minh châu Âu (EU) xác nhận việc thực thi Quy định về phá rừng của EU (EUDR) đã được hoãn lại. Theo đó, EUDR sẽ được áp dụng từ ngày 30 tháng 12 năm 2026 đối với các doanh nghiệp lớn của EU, và từ ngày 30 tháng 6 năm 2027 đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn của EU.
Phần lớn các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ/cao su Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực từ quy định EUDR, do yêu cầu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu không liên quan đến hoạt động phá rừng sau giai đoạn 2020–2021 tương đối phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng gỗ tại Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn thu mua phân tán từ các hộ trồng rừng nhỏ lẻ.
Tuy nhiên tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng này sang EU là không lớn, do đó, các doanh nghiệp vẫn còn dư địa thời gian để điều chỉnh chuỗi cung ứng hoặc chuyển hướng sang các thị trường thay thế nhằm bù đắp phần nhu cầu từ EU khi EUDR chính thức được áp dụng.
Nhóm doanh nghiệp gỗ niêm yết, SAV, PTB, GTA và TTF có tỷ trọng doanh thu thị trường EU ước tính khoảng 10–15%. Nhóm cao su tự nhiên như GVR, PHR, chịu tác động tương đối nhỏ do chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và tiêu thụ nội địa; Nhóm cao su chế biến như CSM, SRC, DRC sẽ chịu tác động lớn hơn, do doanh thu từ thị trường EU khoảng 5 - 10%/ tổng doanh thu.
Về thẻ vàng IUU – rủi ro ngành thủy sản: Thẻ vàng IUU từ EU được thiết lập từ tháng 10/2027 do xác định nhiều tàu cá khai thác ngoài khơi của Việt Nam không mang cờ quốc tịch và có dấu hiệu vi phạm chủ quyền đánh bắt ngoài biển nghiêm trọng.
Qua các năm, nhằm mục tiêu xóa “thẻ vàng”, các cơ quan ban ngành trong nước hiện hiện đã thông qua các luật lệ quan trọng yêu cầu: Tất cả các tàu cá phải mang cờ Việt Nam và Kết nối dữ liệu ra khơi và kiểm tra chặt chẽ. Bên cạnh đó, Thủ tướng đã yêu cầu xử lý 100% các vụ việc vi phạm khai thác IUU còn tồn đọng, đồng thời phát đi cảnh báo đanh thép rằng các bộ trưởng, trưởng ngành và lãnh đạo các tỉnh ven biển sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện, và đối mặt với hình thức kỷ luật nếu để xảy ra tình trạng làm giả số liệu, báo cáo sai lệch về IUU hoặc để tàu cá thuộc quyền quản lý tiếp tục vi phạm vùng biển nước ngoài.
Khả năng được gỡ “thẻ vàng” trong kì kiểm tra vào tháng 3/2026 là khá tích cực khi cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase) đã ghi nhận những bước tiến lịch sử. Tỷ lệ đăng ký và cập nhật dữ liệu đã đạt mức tuyệt đối 100%, bao phủ toàn bộ 79.360 tàu cá trên toàn quốc. Tại các địa phương trọng điểm như tỉnh Quảng Ngãi, hệ thống báo cáo ghi nhận địa phương đã hoàn thành 19/19 nhiệm vụ được giao; 100% tàu cá đang hoạt động được cấp giấy phép khai thác hợp lệ.
Hầu hết các doanh nghiệp tập trung vào mô hình kinh doanh “Thủy sản nuôi trồng” thay vì “Thủy sản đánh bắt”. Vì vậy, tác động tiêu cực trực tiếp (ngay cả trong kịch bản xấu nhất) từ quy định IUU là khá hạn chế.
Cuối cùng, về cơ chế điều chỉnh Carbon biên giới (CBAM): CBAM chính thức được áp dụng lên các sản phẩm thép, xi măng, phân bón nhập khẩu vào thị trường EU từ 01/01/2026 nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động sản xuất và rò rỉ carbon, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mua chứng chỉ CBAM sau khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp kéo dài từ 2023 tới 2025.
Đối với ngành thép, việc áp dụng CBAM ước tính khiến chi phí nhập khẩu tăng 15 – 25% (tùy thuộc vào công nghệ lò cao EAF/BF), khiến việc nhập khẩu thép từ các nhà sản xuất Việt Nam trở nên kém cạnh tranh hơn. Cơ hội sẽ mở ra với những nhà sản xuất có khả năng thích ứng nhanh, chuyển đổi sang sử dụng xanh trong dài hạn.
Trong giai đoạn 2026 – 2027, tác động của CBAM là tương đối hạn chế đối với các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam do định hướng của các công ty nội địa đều đang dịch chuyển về thị trường trong nước nhờ triển vọng tăng cường nhu cầu với động lực chính tới từ hoạt động xây dựng gia tăng tại thị trường Bất động sản Dân dụng và Đầu tư công.
Tương tự, đối với ngành xi măng, phân bón, sản lượng tiêu thụ phần lớn tập trung tại thị trường nội địa, do đó, rủi ro chịu tác động tiêu cực từ CBAM là rất thấp.












