Gần 600 UAV, drone xuất hiện quanh sân bay Đà Nẵng chỉ trong 1 tháng

Gần 600 UAV/drone được phát hiện quanh sân bay Đà Nẵng trong một tháng, cho thấy nguy cơ mới với an toàn hàng không và yêu cầu cấp thiết về khả năng phát hiện, ứng phó.

Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) vừa tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phối hợp bảo đảm an toàn hàng không quý II.

Tại hội nghị, vấn đề thiết bị bay không người lái (UAV/drone) xâm nhập trái phép vào khu vực cảng hàng không, sân bay được xác định là một trong những thách thức an toàn cấp bách hiện nay.

Thử nghiệm hệ thống phát hiện, chế áp UAV ở sân bay Đà Nẵng

Đại diện VATM cho biết thực tế thử nghiệm tại sân bay Đà Nẵng cho thấy quy mô của vấn đề không nhỏ.

Trong một tháng thí điểm hệ thống phát hiện, chế áp UAV, lực lượng chức năng ghi nhận 597 drone hoạt động trong vùng kiểm soát sân bay Đà Nẵng. Trong đó, 458 chiếc hoạt động trong vùng cấm bay và 139 chiếc ở ngoài vùng cấm.

Có 227 lượt drone được xác định xâm nhập khu vực cấm bay của sân bay và lực lượng chức năng đã triển khai các biện pháp ngăn chặn, kiểm soát.

Những con số này cho thấy UAV không còn là nguy cơ mang tính cá biệt. Khi mật độ thiết bị bay ngày càng tăng, đặc biệt tại các khu vực đô thị có hoạt động hàng không cao, việc chỉ dựa vào phát hiện thủ công hoặc xử lý sau khi sự cố xảy ra sẽ ngày càng khó đáp ứng yêu cầu an toàn.

Hệ thống thử nghiệm tại Đà Nẵng được kỳ vọng giúp phát hiện sớm các thiết bị bay không người lái, từ đó cung cấp thêm dữ liệu để cơ quan chức năng đánh giá nguy cơ và đưa ra phương án ứng phó phù hợp.

Một trong những yêu cầu quan trọng là bảo đảm các biện pháp phát hiện, chế áp UAV không gây ảnh hưởng đến hệ thống thông tin liên lạc và thiết bị phục vụ điều hành bay.

Cần một đầu mối xử lý

Bên cạnh đầu tư các giải pháp công nghệ, một bài toán khác được đặt ra là cơ chế phối hợp khi UAV xuất hiện trong khu vực hạn chế bay.

Một sự cố có thể liên quan đến nhiều lực lượng như cơ quan quản lý hàng không, đơn vị quản lý sân bay, cơ sở điều hành bay, công an, quân đội, chính quyền địa phương và các hãng hàng không.

Do đó, các đơn vị hàng không kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy trình phối hợp liên ngành, trong đó xác định rõ đầu mối tiếp nhận thông tin, trách nhiệm của từng lực lượng và phương án xử lý tương ứng với từng cấp độ rủi ro.

Việc này đặc biệt quan trọng trong những tình huống cần phản ứng nhanh. Khi UAV xuất hiện gần đường cất hạ cánh, mỗi phút trì hoãn trong việc xác định vị trí, hướng di chuyển và mức độ nguy hiểm của thiết bị đều có thể làm tăng ảnh hưởng đến khai thác.

Các bên cũng thống nhất tăng cường chia sẻ thông tin, yêu cầu tổ bay nâng cao cảnh giác, quan sát chặt chẽ các vật thể lạ và kịp thời cung cấp thông tin cho cơ sở điều hành bay.

 Với UAV, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ thế bị động xử lý sự cố sang chủ động phát hiện và kiểm soát nguy cơ từ sớm. Ảnh: Khánh Huyền.

Với UAV, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ thế bị động xử lý sự cố sang chủ động phát hiện và kiểm soát nguy cơ từ sớm. Ảnh: Khánh Huyền.

Cùng với việc kiểm soát UAV, năng lực điều hành bay cũng được xem là một yếu tố quan trọng để hạn chế tác động khi xảy ra sự cố.

Tại khu vực Đà Nẵng, lực lượng kiểm soát viên không lưu phải xử lý nhiều yếu tố phức tạp cùng lúc như hoạt động bay dân dụng và quân sự đan xen, hạn chế về cấu hình đường lăn, sân đỗ, thời tiết thay đổi nhanh và đặc thù địa hình.

VATM đã triển khai các giải pháp như rà soát phương thức điều hành bay và quy trình phối hợp, tăng cường kiểm soát tốc độ từ xa, bố trí nhân lực phù hợp, nâng cao chất lượng huấn luyện, giám sát và rút kinh nghiệm sau khai thác.

Công tác phối hợp giữa cơ sở kiểm soát tiếp cận, kiểm soát tại sân bay, các trung tâm kiểm soát đường dài, cơ quan quân sự, người khai thác cảng và các hãng hàng không cũng được tăng cường.

Trong thời gian tới, VATM tiếp tục rà soát tổ chức vùng trời, phương thức bay và các văn bản hiệp đồng; nâng cao chất lượng chia sẻ dữ liệu khai thác, thông tin khí tượng và kế hoạch bay, đồng thời nghiên cứu áp dụng hiệu quả hơn các công cụ quản lý luồng không lưu.

Những giải pháp này bước đầu giúp tối ưu giãn cách thực tế trong giai đoạn tiếp cận, góp phần hạn chế bay chờ, giảm chậm chuyến và nâng cao hiệu quả sử dụng đường cất hạ cánh.

Tuy nhiên, với UAV, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ thế bị động xử lý sự cố sang chủ động phát hiện và kiểm soát nguy cơ từ sớm.

Diệu Thanh

Nguồn Znews: https://znews.vn/gan-600-uav-drone-xuat-hien-quanh-san-bay-da-nang-chi-trong-1-thang-post1677326.html