Gắn kết nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực văn hóa

Mối quan hệ gắn kết giữa ba chủ thể Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực văn hóa có rất nhiều vấn đề cần lý giải, từ đó tạo ra được tác động tương hỗ, đồng bộ và đó chính là mô hình tổng hợp của sự gắn kết ba chủ thể, trở thành quy ước mang tính ổn định được vận hành trong thực tiễn. Làm được điều đó, chúng ta sẽ bỏ lại phía sau các cách làm tuỳ hứng, nhất thời, tùy thuộc vào “sáng kiến” hay “gu” của người lãnh đạo. Để tạo được mô hình trên, cả ba chủ thể trong quan hệ gắn kết này đều cần tự thay đổi, tự đổi mới.

Sinh viên Khoa Di sản văn hóa, trường Đại học Văn hóa TP.HCM trong một chuyến đi thực tế. Ảnh: THÙY TRANG

Sinh viên Khoa Di sản văn hóa, trường Đại học Văn hóa TP.HCM trong một chuyến đi thực tế. Ảnh: THÙY TRANG

 Nhà nước giữ vai trò kiến tạo

Nhà nước, ở đây chủ yếu là cơ quan quản lý, trước hết và quan trọng nhất là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo và năng lực biết kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt, có nguyên tắc hai phương thức tư duy này trong hoạt động thực tiễn đối với chức năng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực văn hóa. Không nên dừng lại ở các văn bản quản lý nhà trường theo tư duy cũ mà rất cần những định hướng cụ thể, hướng dẫn phù hợp để nhà trường tiếp nhận và triển khai thực hiện nhiệm vụ đào tạo và liên kết đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng kết quả đào tạo. Một văn bản định hướng xây dựng mô hình tổng hợp gắn kết ba chủ thể là khung pháp lý để ba chủ thể cùng phối hợp thực hiện. Đó là chức năng kiến tạo của nhà nước.

Phải chăng, lâu nay, chúng ta chưa có khung pháp lý này. Một ví dụ cụ thể: Ở các trường đào tạo nhân lực văn hóa - xã hội của nhiều nước phát triển, cơ quan quản lý nhà nước xác định rõ trong chương trình đào tạo nhất thiết phải có phần thực tập, không phải là “ngoại khóa”, mà là phần cứng mà nhà trường phải thực hiện thông qua liên kết với đơn vị sáng tạo văn hóa hay doanh nghiệp. Sinh viên phải chủ động và thực hiện nghiêm túc như các giờ học có kiểm tra, báo cáo kết quả thực tập và được đánh giá chính thức, chính quy. Không có nó, sinh viên không được lên lớp và thậm chí, không đủ điều kiện tốt nghiệp. Doanh nghiệp tiếp nhận việc thực tập như một trách nhiệm xã hội và tham gia đánh giá kết quả thực tập của sinh viên như một thành tố của đào tạo. Ở ta, có lẽ, nhiệm vụ đó còn rơi vào hình thức, vì thế, chất lượng đào tạo bị hạn chế, vì thiếu năng lực thực hành.

Những chính sách, chế độ, quy định cho phương thức đào tạo trên chính là kết quả kiến tạo của nhà nước góp phần rất quan trọng trong việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Đối với đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, từ “doanh nghiệp” (một trong ba chủ thể) là đúng, song chưa đủ. Các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ văn hóa ngày càng phát triển ở nước ta như các hãng phim, các hãng du lịch, các nhà sách, kinh doanh văn hóa phẩm, các trung tâm tổ chức sự kiện văn hóa - nghệ thuật... Song, ở nước ta, do tính đặc thù chính trị - xã hội, có những đơn vị không thuộc doanh nghiệp, nhưng lại có thể là môi trường trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, đó là các cơ quan quản lý văn hóa, các bảo tàng, thư viện, một số đoàn nghệ thuật, cơ quan báo chí, truyền thông, xuất bản...

Đứng ở góc độ gắn kết các chủ thể để phát triển nguồn nhân lực văn hóa, các đơn vị, doanh nghiệp trên hoàn toàn có thể thực hiện tốt các phần việc rất quan trọng như: Đề xuất nhu cầu cần có về nhân lực văn hóa cho lĩnh vực của mình, môi trường thực tập nghề nghiệp rất thực tiễn và đa dạng; có thể thực hiện phương thức đào tạo theo địa chỉ và cao hơn, có khả năng gợi mở cho nhà trường về chương trình, nội dung đào tạo qua sự trải nghiệm, hoạt động thực tiễn gắn với nhu cầu xã hội và kinh tế thị trường.

Từ thực tiễn cho thấy, ở nhiều cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật hiện nay, sự gắn kết giữa ba chủ thể còn mang tính hình thức, phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo nhà trường với lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan quản lý, chưa trở thành một cơ chế ổn định, có tính chế định. Khi thay đổi nhân sự lãnh đạo, sự gắn kết ấy rất dễ đứt gãy, gián đoạn, kéo theo hệ luỵ trực tiếp đến chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp.

Trong khi đó, kinh nghiệm ở nhiều nước phát triển cho thấy, việc luật hóa trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, buộc cả ba chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình thường xuyên, có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Vì vậy, việc xây dựng mô hình gắn kết ba chủ thể ở nước ta không thể chỉ dừng lại ở các văn bản mang tính khuyến khích, vận động mà cần tiến tới những quy định có tính bắt buộc, đi kèm cơ chế giám sát, đánh giá độc lập, để sự gắn kết ấy thực sự trở thành động lực bền vững, lâu dài cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.

Vai trò chủ động, sáng tạo của nhà trường

Trên đây đã đề cập đến hai chủ thể: Nhà nước và doanh nghiệp trong việc gắn kết phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực văn hóa. “Dư địa” cho sự gắn kết là rất lớn và đa dạng. Vậy vai trò của nhà trường ở đâu? Đó là sự chủ động và sáng tạo. Thiếu nó, không thể biến tiềm năng trên thành hiện thực cụ thể, thành một nội dung đào tạo của nhà trường.

Gần đây, người ta hay nói đến “nhà trường chỉ giảng cái gì mà xã hội cần thay thế cho cái gì mà nhà trường có”! Tôi có chút băn khoăn về luận đề này. Một trường đại học lớn, ví dụ như Đại học Văn hóa Hà Nội, luôn có một tài sản tri thức lớn làm nên giá trị khoa học, danh tiếng và “thương hiệu” của mình. Tài sản tinh thần đó lại luôn được bổ sung và làm mới để có cái mà xã hội cần. Có nghĩa là, nhà trường phải dạy cái mà nhà trường đã tích lũy được từ nhiều năm và cả cái đã được làm mới, bổ sung mà xã hội cần. Có lẽ, không thể thiếu hoặc loại bỏ một trong hai cái đó.

Tạo cho được mối liên kết, gắn bó thực sự giữa nhà trường (và cả các khoa) với các đối tác trong chủ thể thứ ba (doanh nghiệp) là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo trình, giáo án, bài giảng không chỉ ở các dẫn chứng để minh họa mà là qua đó, thể hiện khả năng tổng kết thực tiễn, đúc kết lý luận trên các lĩnh vực đào tạo của nhà trường. Thiếu nó, bài giảng rất dễ rơi vào tình trạng “chay” và “cũ”. Có lẽ, cần quy chế hóa mối liên kết này để nhà trường thường xuyên gắn với đời sống văn hóa đang vận động khẩn trương và biến đổi sâu sắc.

Cùng với việc liên kết trên, nhà trường là nơi trực tiếp tiếp nhận, nghiên cứu, vận dụng trong đào tạo, giảng dạy các nội dung căn cốt và mới trong các văn kiện, nghị quyết, chính sách của chủ thể thứ nhất (Đảng, Nhà nước) về văn hóa, giáo dục, khoa học... Như vậy, nhìn từ sự gắn kết với hai chủ thể (Nhà nước - Doanh nghiệp), nhà trường sẽ “giàu có” hơn về tri thức rút ra từ thực tiễn và từ đường lối, quan điểm, giúp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực văn hóa.

Chỉ tiêu đào tạo cũng là một vấn đề hệ trọng đối với một trường đại học. Đối với toàn bộ hệ thống đại học ở nước ta, đây là vấn đề lớn chưa có một hệ thống nghiên cứu để tìm lời giải thỏa đáng, vừa chủ động vừa thích ứng với sự biến động, biến đổi nhanh, mạnh về chính trị, cơ cấu kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ và xã hội - nhân văn, vì vậy, bài viết này chỉ xin dừng lại thử tìm kết quả ở sự gắn kết của ba chủ thể nêu trên.

Chỉ tiêu đào tạo dựa trên dữ liệu được xây dựng khoa học, chính xác. Từ quan hệ gắn kết ba chủ thể, nếu khai thác, nghiên cứu tốt, nhà trường sẽ có cơ hội nắm chắc nhu cầu khách quan về nguồn nhân lực cần có và phải có từ chủ thể Nhà nước và các đơn vị, công ty, doanh nghiệp sáng tạo, sản xuất, biểu diễn, dịch vụ văn hóa, không chỉ ở trung ương mà cả ở các địa phương.

Phải chăng, nhà trường cần có một bộ phận nghiên cứu vấn đề này để vừa tiếp nhận sinh viên theo nguyện vọng vừa chủ động mở các kênh đào tạo theo nhu cầu của hai chủ thể. Tôi xin đề xuất bốn phương thức đào tạo như là kết quả của sự gắn kết ba chủ thể: Đào tạo theo địa chỉ; đào tạo văn bằng hai đối với một số chuyên ngành như báo chí, truyền thông, xuất bản, tham mưu và quản lý văn hóa...; bồi dưỡng hay đào tạo lại nhằm đáp ứng đòi hỏi mới đối với một bộ phận cán bộ văn hóa và xây dựng vườn ươm tài năng, khởi nghiệp.

Khi viết bài này, tôi hình dung ra những kết quả mới, có tính đột phá khi thực hiện một cách thực chất, khoa học, khả thi sự gắn kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ lịch sử mới của đất nước. Công việc “đầy ắp” ở phía trước, cần có một tiến trình vừa khẩn trương vừa hợp lý. Song, đối với vai trò chủ động và sáng tạo của nhà trường, có lẽ cần tập trung tạo dựng cho mình một bệ phóng vững chắc với các nội dung căn cốt như: Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, xây dựng các giáo trình, vươn lên sách giáo khoa vừa có tầm đại học, trên đại học về văn hóa vừa gắn với thực tiễn; tạo điều kiện thuận lợi về tinh thần, vật chất và tổ chức để các thầy cô giáo phát triển về khoa học và nghề nghiệp; tạo bằng được môi trường học tập, hệ sinh thái sáng tạo văn hóa cho thầy và trò, đặc biệt các năng khiếu, tài năng văn hóa; từng bước xây dựng vững chắc, lâu dài kế hoạch gắn kết, liên kết, hợp tác… trở thành phần cứng, ổn định trong nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, những người phát triển toàn diện về chính trị, bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, tình yêu văn hóa… được đào tạo ở mái trường đại học.

GS.TS ĐINH XUÂN DŨNG

Nguồn Văn hóa: https://baovanhoa.vn/gan-ket-nha-nuoc-nha-truong-doanh-nghiep-de-nang-cao-chat-luong-dao-tao-nguon-nhan-luc-van-hoa.html