Gạo 'xanh' vẫn phải cạnh tranh bằng chất lượng
Đã và đang xuất khẩu 'gạo xanh' sang Nhật Bản, Úc và châu Âu, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho biết điều quan trọng nhất mà các thị trường nhập khẩu yêu cầu vẫn là chất lượng cao và sản xuất an toàn. Phát thải thấp chỉ là 'tiêu chí tăng thêm', được thị trường chấp nhận và chia sẻ với người sản xuất nhằm bảo vệ môi trường.

Ngành lúa gạo đang từng bước dịch chuyển từ tư duy cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ an toàn và tính bền vững. Ảnh: trunganrice.com
Sau thị trường Nhật Bản, Công ty Trung An tiếp tục xuất khẩu thêm 1.000 tấn gạo Việt xanh phát thải thấp sang châu Âu và Úc, mỗi thị trường 500 tấn. Giá mỗi tấn vượt 1.000 đô la Mỹ/tấn, cho thấy thị trường ghi nhận giá trị gia tăng từ các tiêu chuẩn sản xuất xanh và bền vững.
Từ lô hàng hơn 400 tấn gạo Việt xanh phát thải thấp đầu tiên xuất khẩu sang Nhật Bản vào năm ngoái, đến nay đã có khoảng 70.000 tấn gạo cùng dòng sản phẩm được đưa ra thị trường quốc tế. Con số này còn nhỏ nếu so với tổng lượng gạo xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, nhưng cho thấy ngành lúa gạo đang từng bước dịch chuyển từ tư duy cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ an toàn và tính bền vững. Đây cũng được xem là bước đi quan trọng trong hành trình hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà Việt Nam đang theo đuổi.
Lúa gạo là ngành hàng đi đầu trong lộ trình giảm phát thải của lĩnh vực trồng trọt. Tại hội nghị ngày 18-5-2026 của Ban Chỉ đạo triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch hành động về sản xuất giảm phát thải.
Một số địa phương đã bắt đầu hình thành các mô hình cụ thể. Quảng Trị triển khai mô hình lúa giảm phát thải tại 13 xã với diện tích hơn 6.000 héc ta; Hưng Yên dự kiến áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ trên 3.000 héc ta lúa, đồng thời lắp đặt thiết bị đo đếm phát thải trong năm 2026...
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành một dạng “rào cản thương mại mới”, những doanh nghiệp đi trước trong xây dựng vùng nguyên liệu phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc minh bạch và sản xuất bền vững sẽ có lợi thế lớn hơn trong cạnh tranh quốc tế. Đó không chỉ là câu chuyện giá bán, mà còn là khả năng giữ thị trường, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cùng với đó, ngành trồng trọt đang đẩy mạnh xây dựng quy trình canh tác giảm phát thải, sử dụng hiệu quả phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; thúc đẩy tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, phát triển nông nghiệp tuần hoàn và xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải. Theo kế hoạch, trong năm 2026, quy trình kỹ thuật và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định phát thải cho các ngành hàng như lúa, bắp, cà phê và sầu riêng sẽ tiếp tục được hoàn thiện.
Từ nay đến năm 2030, ngành trồng trọt đặt mục tiêu hình thành các vùng sản xuất lúa, cà phê, cây ăn quả và bắp phát thải thấp theo lợi thế từng vùng sinh thái; chuẩn hóa hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định từ trung ương đến địa phương; phát triển chuỗi giá trị nông sản phát thải thấp; đồng thời thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và tiếp cận các tiêu chuẩn xanh của thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, trải nghiệm từ chính doanh nghiệp đang bán “gạo xanh” ra thị trường quốc tế cho thấy, phát thải thấp chưa phải là yếu tố quyết định duy nhất. Theo ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Trung An(1), điều quan trọng nhất các thị trường nhập khẩu yêu cầu vẫn là chất lượng cao và sản xuất an toàn; phát thải thấp chỉ là “tiêu chí tăng thêm”, được thị trường chấp nhận và chia sẻ với người sản xuất nhằm bảo vệ môi trường.
Từ chia sẻ này có thể hiểu rằng, các khái niệm như “xanh”, “carbon thấp” hay “phát thải thấp” xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiêu chuẩn thương mại quốc tế song vẫn chưa thể thay thế những tiêu chí nền tảng như chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc hay tính ổn định của chuỗi cung ứng. Nói cách khác, “xanh” không thể cứu một sản phẩm chất lượng thấp, nhưng có thể giúp một sản phẩm tốt tạo thêm khác biệt trên thị trường.
Cũng cần nói thêm rằng, phát thải thấp không đồng nghĩa mặc nhiên với chất lượng cao. Trong thực tế sản xuất, mục tiêu giảm phát thải và yêu cầu duy trì chất lượng nông sản luôn đòi hỏi sự cân bằng kỹ thuật rất chặt chẽ.
Giảm phát thải chủ yếu liên quan đến tối ưu nước tưới, giảm phân bón hóa học, hạn chế phát thải methane hay tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, trong khi chất lượng nông sản lại phụ thuộc vào giống, dinh dưỡng, quản lý sâu bệnh, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch.
Nếu giảm đầu vào theo cách cơ học và thiếu kiểm soát kỹ thuật, mục tiêu giảm phát thải hoàn toàn có thể đi kèm rủi ro suy giảm năng suất và chất lượng nông sản.
Chẳng hạn, cắt giảm phân bón không hợp lý có thể làm giảm độ phì của đất; còn kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ nếu vận hành sai thời điểm sinh trưởng cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Nói cách khác, phát thải thấp không đơn thuần là câu chuyện “ít carbon hơn”, mà là bài toán tối ưu đồng thời giữa môi trường, năng suất và chất lượng sản phẩm.
Đó cũng là lý do các thị trường cao cấp hiện nay không mua gạo chỉ vì “ít carbon” hơn, mà vì sản phẩm vừa chất lượng vừa bền vững. Phát thải thấp, trong trường hợp này, thực chất là lớp giá trị cộng thêm trên nền tảng của sản phẩm vốn đã đạt chuẩn cao.
Dù vậy, điều đó không làm giảm ý nghĩa của xu hướng xanh hóa trong dài hạn. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành một dạng “rào cản thương mại mới”, những doanh nghiệp đi trước trong xây dựng vùng nguyên liệu phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc minh bạch và sản xuất bền vững sẽ có lợi thế lớn hơn trong cạnh tranh quốc tế. Đó không chỉ là câu chuyện giá bán, mà còn là khả năng giữ thị trường, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ góc độ đó, như khuyến nghị của ông Nguyễn Như Cường, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, cần sớm xây dựng và ban hành quy trình canh tác phát thải thấp riêng cho từng loại cây trồng để làm cơ sở triển khai đồng bộ. Với nhóm cây dài ngày, không nên chỉ nhìn vào lượng phát thải cắt giảm được mà cần nghiên cứu thêm khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon của cây trồng để có cái nhìn đầy đủ hơn về sản xuất xanh.
Quan trọng hơn, quá trình chuyển đổi xanh không nên bị đẩy theo hướng tuyệt đối hóa yếu tố carbon, mà cần hướng tới mục tiêu lớn hơn là nâng cấp toàn bộ hệ thống sản xuất nông nghiệp - từ chất lượng đất, quy trình canh tác đến chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế của người sản xuất. Bởi cuối cùng, thị trường có thể sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm phát thải thấp, nhưng chỉ khi trước hết đó phải là sản phẩm đủ tốt.
(1) https://thesaigontimes.vn/them-1-000-tan-gao-viet-xanh-phat-thai-thap-gia-tren-1-000-do-la-sang-chau-au-va-uc/
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/gao-xanh-van-phai-canh-tranh-bang-chat-luong/











