Giá gạo xuất khẩu phục hồi, nhưng cuộc đua giữ vị thế của gạo Việt mới thực sự bắt đầu

Sau nhiều tháng giảm sâu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang phục hồi, đặc biệt ở phân khúc gạo thơm và gạo chất lượng cao. Tuy nhiên, tín hiệu tích cực này diễn ra trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu vẫn dồi dào, Ấn Độ gia tăng sức ép cạnh tranh về giá, còn nhiều quốc gia nhập khẩu đẩy mạnh tự chủ lương thực. Điều đó buộc ngành gạo Việt Nam phải chuyển mạnh từ cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng.

Giá gạo tăng trở lại nhờ phân khúc chất lượng cao

Sau giai đoạn điều chỉnh kéo dài từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, thị trường gạo xuất khẩu của Việt Nam đang phát đi những tín hiệu tích cực. Động lực chủ yếu đến từ nhu cầu nhập khẩu cải thiện tại một số thị trường trọng điểm cùng xu hướng dịch chuyển sang các dòng gạo thơm và gạo chất lượng cao, giúp giá xuất khẩu tăng trở lại sau nhiều tháng suy giảm.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong tháng 7/2026, giá gạo Jasmine được chào bán ở mức 513-517 USD/tấn, tăng hơn 30 USD/tấn so với cuối tháng trước. Gạo thơm 5% tấm dao động 510-520 USD/tấn, trong khi nhiều dòng gạo thơm khác cũng ghi nhận mức tăng nhẹ.

Đáng chú ý, giá gạo Việt Nam tiếp tục cao hơn đáng kể so với nhiều đối thủ cạnh tranh. Trong khi gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được giao dịch quanh mức 478-482 USD/tấn thì sản phẩm cùng loại của Ấn Độ chỉ khoảng 350-354 USD/tấn. Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về chiến lược cạnh tranh: nếu Ấn Độ hướng tới phân khúc giá thấp, Việt Nam đang từng bước chuyển sang tạo lợi thế bằng chất lượng, giống lúa đặc sản và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Nguồn cung trong nước cũng là yếu tố hỗ trợ tích cực. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục bảo đảm tiến độ sản xuất vụ Hè Thu, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho hoạt động chế biến và xuất khẩu trong những tháng cuối năm.

Tuy nhiên, sự phục hồi của giá chưa đủ để bù đắp những khó khăn trong nửa đầu năm. Theo số liệu của Cục Hải quan, sáu tháng đầu năm 2026 Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,02 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,38 tỷ USD. Dù sản lượng tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch lại giảm 9,2% do giá xuất khẩu bình quân giảm xuống còn khoảng 459,6 USD/tấn.

Thực tế này cho thấy bài toán của ngành gạo không còn là xuất khẩu nhiều hơn, mà phải nâng giá trị trên mỗi tấn gạo. Khi mặt bằng giá thế giới biến động, doanh nghiệp chỉ có thể duy trì hiệu quả nếu tập trung vào chất lượng và giá trị gia tăng.

Giá gạo xuất khẩu tháng 7/2026

Jasmine: 513-517 USD/tấn

Gạo thơm 5% tấm: 510-520 USD/tấn

Gạo trắng 5% tấm Thái Lan: 478-482 USD/tấn

Gạo trắng 5% tấm Ấn Độ: 350-354 USD/tấn

Nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA)

Nguồn cung dồi dào khiến cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt

Dù giá gạo đang có dấu hiệu phục hồi, triển vọng của ngành lúa gạo vẫn chịu sức ép lớn từ bối cảnh cung - cầu toàn cầu.

Theo Hội đồng Ngũ cốc Quốc tế (IGC), niên vụ 2026-2027, sản lượng gạo thế giới được dự báo đạt khoảng 545 triệu tấn, cao hơn nhu cầu tiêu thụ. Thương mại gạo toàn cầu có thể lập kỷ lục khoảng 62 triệu tấn, trong khi lượng tồn kho tiếp tục tăng, chủ yếu nhờ nguồn cung lớn từ Ấn Độ.

Điều đó đồng nghĩa thị trường thế giới đã bước sang giai đoạn khác so với giai đoạn thiếu hụt nguồn cung trong các năm 2023-2024. Dư địa tăng giá sẽ không còn lớn, còn cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu sẽ ngày càng gay gắt.

Sức ép lớn nhất đến từ Ấn Độ. Sau khi dỡ bỏ các biện pháp hạn chế xuất khẩu, quốc gia này nhanh chóng lấy lại vị thế là nhà cung cấp lớn nhất thế giới nhờ lợi thế về quy mô sản xuất và giá bán thấp.

Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam gần như không có lợi thế nếu tham gia cuộc đua giảm giá. Việc cạnh tranh trực diện ở phân khúc giá thấp sẽ khiến doanh nghiệp thu hẹp biên lợi nhuận, ảnh hưởng đến đầu tư vùng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm.

Thay vào đó, hướng đi phù hợp là tập trung vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao như gạo thơm, gạo đặc sản, gạo hữu cơ và gạo sản xuất theo quy trình phát thải thấp. Đây cũng là định hướng của Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Đáng chú ý, nhiều thị trường nhập khẩu hiện không còn chỉ quan tâm đến giá bán mà ngày càng coi trọng các tiêu chí về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, an toàn thực phẩm và tính bền vững của chuỗi sản xuất. Đây chính là cơ hội để gạo Việt Nam tạo khác biệt nếu tiếp tục đầu tư vào chất lượng và thương hiệu.

Muốn giữ vị thế, gạo Việt phải bán bằng thương hiệu thay vì sản lượng

Ngoài áp lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam còn phải thích ứng với sự thay đổi trong chính sách của nhiều thị trường nhập khẩu.

Indonesia sau thời gian tăng mạnh nhập khẩu để bổ sung dự trữ hiện đã sở hữu lượng tồn kho lớn và được dự báo sẽ giảm đáng kể nhu cầu nhập khẩu trong năm 2026. Trong khi đó, Philippines vẫn là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam nhưng cũng đang triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng sản lượng trong nước, mở rộng kho dự trữ và giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.

Xu hướng tương tự cũng xuất hiện tại nhiều thị trường khác khi các yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phát thải carbon, chứng nhận vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc ngày càng nghiêm ngặt.

Điều đó cho thấy lợi thế cạnh tranh trong tương lai sẽ không nằm ở việc bán được nhiều gạo hơn mà ở khả năng bán với giá cao hơn nhờ chất lượng và thương hiệu.

Thực tế, nghịch lý của ngành gạo Việt Nam nhiều năm qua là luôn thuộc nhóm quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới nhưng giá trị mang lại chưa tương xứng. Sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục phản ánh điều này khi sản lượng xuất khẩu tăng nhưng kim ngạch lại giảm.

Để thay đổi thực trạng đó, ngành lúa gạo cần tiếp tục đầu tư vào giống chất lượng cao, cơ giới hóa sản xuất, chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu, giảm phát thải khí nhà kính và xây dựng thương hiệu quốc gia cho các dòng gạo có lợi thế cạnh tranh.

Song song với đó là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP và UKVFTA. Đây đều là những thị trường có sức mua lớn và sẵn sàng trả giá cao nếu sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và phát triển bền vững.

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2026 có thể đạt khoảng 8,1 triệu tấn. Đây là cơ hội để cải thiện kết quả kinh doanh, nhưng thành công sẽ không còn được đo bằng sản lượng xuất khẩu mà bằng khả năng nâng giá trị trên mỗi tấn gạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, hạt gạo Việt Nam chỉ có thể duy trì vị thế nếu được định vị ở phân khúc chất lượng cao, có thương hiệu mạnh, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Đây cũng là con đường giúp nâng cao thu nhập cho người nông dân và tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn cho ngành lúa gạo.

Xuất khẩu gạo Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026

Xuất khẩu 5,02 triệu tấn

Kim ngạch 2,38 tỷ USD

Sản lượng tăng 2,5%

Kim ngạch giảm 9,2%

Giá xuất khẩu bình quân 459,6 USD/tấn

Nguồn: Cục Hải quan

Đức Thuận

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/gia-gao-xuat-khau-phuc-hoi-nhung-cuoc-dua-giu-vi-the-cua-gao-viet-moi-thuc-su-bat-dau-185458.html