Gia Lai khắc ghi lời Bác dạy về đại đoàn kết dân tộc
Cách đây 80 năm (19-4-1946), tại Pleiku đã diễn ra Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam. Nhân dịp này, Bác Hồ đã gửi thư với dung lượng chỉ 280 chữ nhưng hàm chứa nội dung sâu sắc, thể hiện rõ tư tưởng đại đoàn kết dân tộc cùng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đoàn kết là sức mạnh
Đại hội các DTTS miền Nam họp ở Pleiku năm 1946 (trong khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy Gia Lai cũ) diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, bao nhiêu khó khăn chồng chất: 2 triệu người chết đói, ngân khố quốc gia trống rỗng, 95% dân số mù chữ, thù trong giặc ngoài câu kết với nhau hòng lật đổ chính quyền cách mạng. Trong khi đó, thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa.

Bức thư của Bác Hồ được khắc trên đá và đặt trong khuôn viên Quảng trường Đại Đoàn Kết (phường Pleiku, Gia Lai). Ảnh: Đoàn Minh Phụng
Ngày 23-9-1945, Nam Bộ bắt đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc trở thành tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là phương châm hành động của Chính phủ, của toàn dân ta. Tình cảm và tấm lòng của Người có sức động viên, cổ vũ to lớn đối với đồng bào:“Tôi tuy xa nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào”(*). Lời trong bức thư ấy đủ sức truyền cảm và chứng thực cho những điều Người nói là sự thật, là chân lý, là đạo đức thấm sâu vào đường lối chính trị.
Theo Bác Hồ, chính trị cốt ở đoàn kết. Người là điển hình mẫu mực về sự nhất quán giữa lời nói và việc làm nên rất đỗi tự nhiên, nhân dân tin tưởng sâu sắc những điều Người nói, những lời Người căn dặn. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trí tuệ, tâm hồn và tình cảm của mình, bằng đạo đức và nhân cách của mình đã khai sáng nhận thức, gieo niềm tin cho nhân dân đầy sức thuyết phục. Thư của Người là minh chứng sinh động về văn hóa chính trị, là “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
Trong thư, Bác khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Đây là đạo lý, tình nghĩa dân tộc, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, thủy chung son sắt, tạo nên sức mạnh chống lại mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, kích động tâm lý dân tộc hẹp hòi mà kẻ thù ra sức xuyên tạc hòng làm suy yếu sự cố kết của đồng bào ta.
Bác nói rõ trong thư: “Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xấu xúi giục để chia rẽ chúng ta”. Nêu lên những nguyên nhân ấy để thức tỉnh, giác ngộ đồng bào, Bác đồng thời cũng gián tiếp nhắn nhủ đồng bào các DTTS một chân lý vĩnh hằng: Đoàn kết thì mạnh và sống, chia rẽ thì yếu và chết.

Bia đá dựng tại nơi diễn ra Đại hội các DTTS miền Nam năm 1946, trong khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy Gia Lai (cũ). Ảnh: Đ.M.P
Từ đó, Người nêu cao một sự thật, một chân lý “Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có Nha Dân tộc thiểu số để săn sóc cho tất cả đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. Tính chất và ý nghĩa chủ đạo của thông điệp trong bức thư chính là ở luận đề tư tưởng này. Người không chỉ nhấn mạnh “đoàn kết chặt chẽ, giữ gìn non nước ta” mà còn xác định trách nhiệm, hành động “ủng hộ Chính phủ ta” bởi Chính phủ là Chính phủ nhân dân, Chính phủ của dân, do dân bầu ra vì mục đích phục vụ nhân dân để nhân dân là chủ và làm chủ.
Từ thông điệp đoàn kết, yêu nước, tranh đấu cho nền độc lập của Tổ quốc, bức thư của Người kết thúc bằng lời kêu gọi cũng đồng thời là thực hiện nhiệm vụ “Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.
Nói rõ giá trị bền vững và thiêng liêng đó, trong lời kết của bức thư, Bác Hồ nêu lên chân lý “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”. Cách biểu đạt tư tưởng và tình cảm, ý chí và hành động theo hình thức so sánh, trực cảm mà Người sử dụng trong thư rất phù hợp với tâm lý, tình cảm của đồng bào DTTS.
Gia Lai làm theo lời Bác
Thấm nhuần lời dạy của Bác trong thư gửi Đại hội các DTTS miền Nam, suốt chặng đường lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh kháng chiến chống xâm lược và xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ tỉnh Gia Lai đã tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, thương yêu và tôn trọng nhau. Cán bộ, đảng viên và đồng bào trong tỉnh luôn khắc sâu tình cảm sâu đậm và mong muốn thiết tha của Bác về đại đoàn kết toàn dân.
Vì vậy, Đảng bộ luôn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm tâm lý, tập quán của từng cộng đồng dân tộc trên địa bàn để có hình thức tổ chức phương thức lãnh đạo, vận động tuyên truyền thích hợp, tập hợp đoàn kết toàn dân kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc với chủ trương: “Tranh thủ các già làng, tầng lớp chức sắc tôn giáo, đi đôi với vận động quần chúng nông dân, công nhân đồn điền, đề cao và sử dụng các nhân sĩ trí thức, học sinh, binh lính yêu nước vào những công việc trong các bộ máy chính quyền đoàn thể quần chúng; kèm cặp, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ nam nữ người DTTS vào bộ máy lãnh đạo các cơ quan, đơn vị các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang...

Tác phẩm Bác Hồ với Tây Nguyên của cố họa sĩ Xu Man.
Đi đôi với vận động nhân dân đoàn kết kháng chiến, Đảng bộ đã kiên trì chống mọi âm mưu, thủ đoạn của địch nhằm chia rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng. Nhờ đó, trong suốt những năm tiến hành chiến tranh cách mạng, tình đoàn kết, mối quan hệ bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc trong tỉnh luôn được giữ vững, gắn bó mật thiết, sâu đậm”(1).
Trong thời kỳ đất nước thống nhất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần tập hợp, đoàn kết dân tộc càng được Đảng bộ quan tâm lãnh đạo: “...Trong thời kỳ hòa bình xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, nhất là trong công cuộc đổi mới, trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực phản động ngoài nước, Đảng bộ đã chú ý bồi bổ nhân tố đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân.
Các chính sách xóa đói giảm nghèo, giao đất, giao rừng, hỗ trợ xã nghèo, hộ nghèo, xóa mù chữ, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, chăm lo đời sống tinh thần, vật chất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng điện, đường, trường học, trạm y tế vùng căn cứ, vùng sâu, vùng xa... được Đảng bộ chú ý chăm lo...” (trích Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Gia Lai (cũ) 1945 - 2005).
Và, tư tưởng về đoàn kết toàn dân tộc, quan tâm chăm lo đến công tác dân tộc của Đảng và Bác Hồ mãi mãi trường tồn cùng con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta ngày nay và mai sau.
---------
(*)Những đoạn trích trong ngoặc kép là nội dung thư của Bác gửi Đại hội các DTTS miền Nam, lấy từ sách “Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr.85-86.






![[INFOGRAPHIC] Long diên hương được ví như 'vàng nổi', quý giá thế nào?](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_04_18_180_54964371/19f19aca6a8283dcda93.jpg)




