Giá nông sản hôm nay 20/4: Cà phê lao dốc mạnh, hồ tiêu nhích phục hồi, lúa gạo giữ giá

Ngày 20/4, thị trường nông sản ghi nhận xu hướng phân hóa rõ nét giữa các mặt hàng chủ lực. Khi cà phê tiếp tục nối dài đà giảm sang tuần thứ tư liên tiếp, hồ tiêu phát đi tín hiệu phục hồi nhờ nguồn cung thu hẹp, còn lúa gạo vẫn duy trì trạng thái ổn định nhưng giao dịch khá trầm lắng.

Thị trường cà phê

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Quanh ngưỡng 84.500 – 85.200 đồng/kg là mức giao dịch của giá cà phê trong nước hôm nay, giảm 600 – 700 đồng/kg so với tuần trước và đánh dấu tuần giảm thứ tư liên tiếp. Đồng thời, đây cũng là vùng giá thấp nhất trong gần một tháng trở lại đây, phản ánh áp lực điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng trước đó.

Tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Nông vẫn là địa phương giữ mức cao nhất 85.200 đồng/kg, còn Đắk Lắk và Gia Lai cùng lùi về quanh 85.000 đồng/kg. Tiếp tục đứng ở mức thấp nhất là Lâm Đồng, hiện chỉ còn khoảng 84.500 đồng/kg. Đáng chú ý, giao dịch trên thị trường diễn ra khá trầm lắng khi cả người bán lẫn doanh nghiệp đều giữ tâm lý thận trọng, chờ tín hiệu rõ ràng hơn từ thị trường quốc tế.

Ngược chiều trong nước, thị trường thế giới lại xuất hiện diễn biến trái chiều. Giá robusta trên sàn London tăng nhẹ, với hợp đồng tháng 5/2026 đạt khoảng 3.388 USD/tấn, trong khi arabica trên sàn New York giảm mạnh xuống quanh 289 US cent/pound. Sự phân hóa này cho thấy robusta vẫn được nâng đỡ bởi tồn kho thấp và nhu cầu ổn định, còn arabica chịu sức ép từ kỳ vọng nguồn cung tăng mạnh.

Yếu tố đang gây áp lực lên giá chính là triển vọng sản lượng cà phê toàn cầu, đặc biệt tại Brazil. Dự báo niên vụ 2026–2027 có thể đạt tới 75,65 triệu bao, tăng 17% so với vụ trước, trong đó arabica tăng mạnh. Vì vậy, thị trường nội địa dù không dư cung vẫn chịu ảnh hưởng bởi tâm lý chờ đợi và lo ngại giá còn tiếp tục điều chỉnh.

Thị trường hồ tiêu

Trái với cà phê, hồ tiêu trong nước đang phát tín hiệu phục hồi rõ hơn. Giá tiêu hôm nay dao động trong khoảng 139.000 – 141.000 đồng/kg, gần như đi ngang so với phiên trước nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng từ 1.000 – 2.000 đồng/kg.

Tiếp tục dẫn đầu là Đắk Lắk và Đắk Nông với mức 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai duy trì quanh 140.000 đồng/kg. Riêng Gia Lai là địa phương duy nhất giảm nhẹ trong phiên gần nhất, xuống còn 139.500 đồng/kg.

Diễn biến này cho thấy nguồn cung sau vụ thu hoạch đang dần thu hẹp, trong khi lực cầu bắt đầu quay trở lại. Tuy nhiên, trên thị trường thế giới, giá tiêu lại đang chịu áp lực giảm.

Cụ thể hơn, giá tiêu đen Indonesia giảm khoảng 0,44% trong tuần, xuống còn 7.043 USD/tấn. Đây là mức giảm đáng chú ý trong bối cảnh nguồn cung nội địa quốc gia này vẫn còn hạn chế.

Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giảm mạnh hơn, tới 2,44%, tương đương 150 USD/tấn, xuống còn 6.000 USD/tấn. Điều này cho thấy áp lực bán ra gia tăng từ khu vực Nam Mỹ. Trong khi đó, Malaysia tiếp tục giữ giá ổn định ở mức 9.300 USD/tấn, chưa ghi nhận biến động mới.

Với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l, cho thấy sự ổn định tương đối so với thị trường quốc tế.

Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia cũng ghi nhận mức giảm nhẹ, xuống còn 9.279 USD/tấn. Trong khi đó, Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nguyên mức giá lần lượt là 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Theo số liệu từ ITC, xuất khẩu hồ tiêu Indonesia suy giảm mạnh trong những tháng đầu năm, cho thấy sự điều chỉnh cung – cầu mang tính dài hạn. Điều này tạo ra trạng thái “lệch pha” giữa thị trường nội địa và quốc tế. Trong ngắn hạn, giá tiêu Việt Nam có thể tiếp tục duy trì xu hướng đi ngang hoặc tăng nhẹ nếu lực cầu xuất khẩu cải thiện.

Thị trường lúa gạo

Đối với mặt hàng lúa gạo, hôm nay thị trường Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận trạng thái ổn định, giá ít biến động nhưng giao dịch còn chậm.

Cụ thể, lúa tươi OM 18 có giá dao động 6.000 – 6.200 đồng/kg, lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.000 – 6.100 đồng/kg, lúa OM 5451 khoảng 5.800 – 5.900 đồng/kg, trong khi IR 50404 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 tiếp tục duy trì vùng thấp hơn, khoảng 5.100 – 5.200 đồng/kg.

Ở nhóm mặt hàng gạo, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.000 – 8.050 đồng/kg, gạo OM 18 ở mức 8.700 – 8.900 đồng/kg, gạo CL 555 khoảng 8.100 – 8.200 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 giữ mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam vẫn đứng ở mức tương đối cao, với gạo 5% tấm dao động 490 – 500 USD/tấn, gạo Jasmine khoảng 465 – 469 USD/tấn. Dữ liệu 3 tháng đầu năm 2026 cho thấy xuất khẩu gạo đạt 2,3 triệu tấn, tăng nhẹ về lượng nhưng giảm gần 8% về giá trị.

Ở thị trường thế giới, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn. Tại Ấn Độ thị trường đi ngang, gạo 5% tấm được chào bán dao động 342 - 346 USD/tấn; gạo 100% tấm ở mức 283 - 287 USD/tấn.

Tiếp tục chịu tác động từ nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị, giá năng lượng neo cao và chi phí logistics chưa giảm là thị trường lúa gạo toàn cầu. Những yếu tố này gây áp lực lên cán cân cung - cầu, đồng thời khiến giao dịch quốc tế diễn ra thận trọng hơn.

Lan Lê

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-hom-nay-20-4-ca-phe-lao-doc-manh-ho-tieu-nhich-phuc-hoi-lua-gao-giu-gia/20260420083105651