Giá nông sản ngày 23/1/2026: Cà phê chạm mốc 100.000 đồng/kg

Giá nông sản trong nước ngày 23/1/2026 đồng loạt tăng mạnh, khi cà phê ghi nhận mức tăng từ 1.800 - 2.100 đồng/kg so với phiên giao dịch hôm trước, còn hồ tiêu nhích thêm 500 - 1.000 đồng/kg, đạt 148.000 - 149.000 đồng/kg.

Giá cà phê bật tăng

Trên thị trường thế giới, phiên giao dịch gần nhất khép lại với việc giá cà phê Robusta tại London giảm 52 USD/tấn, xuống còn 4.026 USD/tấn đối với kỳ hạn tháng 3/2026, trong khi kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 41 USD/tấn, còn 3.943 USD/tấn.

Ảnh minh họa. Ảnh: Internet

Ảnh minh họa. Ảnh: Internet

Trên sàn New York, hợp đồng cà phê Arabica giao tháng 3/2026 tăng nhẹ 0,2 cent/lb, lên 347,7 cent/lb, còn kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 0,5 cent/lb, đạt 331,3 cent/lb.

Hai sàn cà phê quốc tế diễn biến trái ngược nhau, khi Robusta quay đầu giảm sau đợt tăng mạnh, còn Arabica phục hồi nhờ đồng Real Brazil tăng giá so với đồng USD.

Giá cà phê trong nước tiến sát mốc 100.000 đồng/kg

Theo ghi nhận sáng 23/1, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng từ 1.800 - 2.100 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng giá lên khoảng 99.500 - 100.200 đồng/kg, với mức trung bình đạt 100.100 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, cà phê hiện được thu mua trong khoảng 99.500 - 100.200 đồng/kg, tăng 2.100 đồng/kg so với phiên liền trước.

Giá tại Đắk Lắk đã chạm 100.000 đồng/kg, cao hơn 1.800 đồng/kg so với ngày hôm qua. Ở Gia Lai và Quảng Ngãi, mức giá giao dịch hiện cùng đạt 100.000 đồng/kg, tăng 1.800 đồng/kg so với đầu phiên 22/1.

Việc giá cà phê nội địa leo dốc giữa mùa thu hoạch cho thấy lực đẩy thị trường không còn đến từ yếu tố mùa vụ, mà chủ yếu bị chi phối bởi diễn biến sàn quốc tế và tâm lý găm hàng của nông dân - nhiều hộ hiện chọn giữ hàng chờ giá lên rõ ràng hơn thay vì bán sớm chốt lời.

Giá hồ tiêu tăng nhẹ

Kết quả khảo sát cho thấy, giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm tăng thêm 500 – 1.000 đồng/kg so với ngày hôm qua, hiện dao động trong khoảng 148.000 - 149.000 đồng/kg.

Trong đó, Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lên 149.000 đồng/kg, cao hơn 1.000 đồng/kg so với hôm trước.

Tại Đắk Lắk và Đắk Nông, giá tiêu phổ biến ở mức 149.000 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg. Ở Gia Lai, giá tiêu tăng 500 đồng/kg, lên 148.500 đồng/kg, trong khi Đồng Nai cũng nhích lên 148.000 đồng/kg, tăng tương tự 500 đồng/kg.

Giá hồ tiêu thế giới giữ ổn định

Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy, giá tiêu đen của Indonesia chốt phiên ở mức 6.662 USD/tấn, tăng 0,36% (tương đương 3 USD/tấn) so với ngày trước đó.

Tại các quốc gia khác, giá tiêu vẫn ổn định, với tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.000 USD/tấn và tiêu đen Malaysia ở mức 9.000 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục giữ trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn cho loại 500 g/l và 550 g/l. Cùng thời điểm, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 0,36% (42 USD/tấn), lên mức 9.106 USD/tấn.

Trong khi đó, giá tiêu trắng tại Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nguyên, lần lượt là 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.

Triển vọng thị trường hồ tiêu năm 2026

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), năm 2026, giá hạt tiêu dự kiến duy trì ở mức cao và tiếp tục có xu hướng tăng do nguồn cung toàn cầu sụt giảm mạnh (ước giảm 15–20%), tồn kho thấp và nhu cầu thế giới mở rộng.

Dù vậy, trị giá xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng chậm hơn sản lượng, do các doanh nghiệp đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu và các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu lớn.

Trong trung và dài hạn, việc kiểm soát chặt thuốc bảo vệ thực vật, thúc đẩy sản xuất bền vững, đẩy mạnh chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc sẽ giúp gia tăng giá trị xuất khẩu, mở rộng thị phần cao cấp và củng cố vị thế của hồ tiêu Việt Nam, dù chi phí chuyển đổi và sàng lọc doanh nghiệp có thể tăng trong ngắn hạn.

Xuất khẩu hồ tiêu năm 2025: giảm lượng, tăng giá trị

Theo Cục Hải quan, tháng 12/2025, Việt Nam xuất khẩu 22,01 nghìn tấn hồ tiêu, trị giá 145,02 triệu USD, tăng 22,2% về lượng và 22,3% về trị giá so với tháng 11/2025, đồng thời cao hơn 49,3% về lượng và 48,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.

Tính chung năm 2025, xuất khẩu hồ tiêu đạt 246,1 nghìn tấn, trị giá 1,66 tỷ USD, giảm 1,5% về lượng nhưng tăng 26,3% về trị giá so với năm 2024.

Nguyên nhân là do giá xuất khẩu hạt tiêu bình quân trong năm 2025 đạt 6.748 USD/tấn, cao hơn 28,2% so với năm 2024, dù đà tăng có phần chậm lại trong những tháng cuối năm - đạt 6.587 USD/tấn trong tháng 12/2025, tăng nhẹ 0,1% so với tháng 11/2025 và 0,3% so với tháng 12/2024.

Trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu hạt tiêu đen, chiếm 83% tổng lượng, trong khi hạt tiêu trắng chiếm 13,8%. Hạt tiêu chế biến chỉ chiếm khoảng 18,3%, không thay đổi so với năm 2024. Xuất khẩu hai chủng loại hạt tiêu đen và trắng xay đều giảm về lượng, nhưng hạt tiêu trắng nguyên tăng mạnh 27,8% về lượng và 42,7% về trị giá, đạt 24,9 nghìn tấn, tương đương 198,8 triệu USD.

Năm 2025, Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 22,83% tổng lượng và 25,08% tổng trị giá, thấp hơn so với mức 29,52% và 31% của năm 2024. Các thị trường khác dao động từ 1 – 6,57% tổng lượng tùy khu vực.

Lượng xuất khẩu giảm chủ yếu do thị trường Mỹ sụt 23,8%, cùng với đó là các thị trường như UAE giảm 10,7% và Hà Lan giảm 18,8%.

Ngược lại, nhiều thị trường ghi nhận tăng trưởng mạnh như Đức tăng 2%, Thái Lan tăng 44,1%, Anh tăng 17,1% và Ai Cập tăng 27,5%.

Giá xuất khẩu bình quân tăng cao trong năm 2025 đã góp phần giúp tổng trị giá xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tăng trên hầu hết các thị trường.

Lan Lê

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-ngay-23-1-2026-ca-phe-cham-moc-100-000-dong-kg/20260123093847766