Giá nông sản ngày 5/3: Cà phê lao dốc, hồ tiêu, lúa gạo đi ngang
Giá cà phê tại Tây Nguyên đồng loạt giảm mạnh, hồ tiêu duy trì ổn định, trong khi lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long gần như không thay đổi so với hôm qua.
Giá cà phê giảm sâu tại các tỉnh Tây Nguyên
Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê hiện giao dịch quanh mức 94.200 - 95.000 đồng/kg, thấp hơn 1.100 - 1.400 đồng/kg so với ngày trước.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Đắk Lắk và Gia Lai là hai địa phương chứng kiến mức giảm mạnh nhất, tới 1.400 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống 94.800 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng chỉ giảm 1.100 đồng/kg, còn 94.200 đồng/kg - mức thấp nhất trong khu vực.
Riêng tại Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê giảm 1.300 đồng/kg, xuống còn 95.000 đồng/kg, song đây vẫn là địa phương có giá cao nhất Tây Nguyên.
Trên thị trường thế giới, sau khi tăng liên tiếp hai tuần, giá cà phê Robusta trên sàn London đã quay đầu giảm. Hợp đồng giao tháng 5/2026 mất 1,77% (tương đương 67 USD/tấn), còn 3.705 USD/tấn; hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 1,4% (52 USD/tấn), về 3.624 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá cà phê Arabica cũng giảm nhẹ. Hợp đồng tháng 5/2026 giảm 0,48%, xuống 286,95 US cent/pound; còn hợp đồng tháng 7/2026 giảm 0,5%, chốt ở 283,15 US cent/pound.
Hồ tiêu ổn định, duy trì mức cao tại nhiều vùng trọng điểm
Giá hồ tiêu trong nước hiện đi ngang ở mức 145.000 - 146.000 đồng/kg, không thay đổi so với hôm qua. Tại Đắk Lắk, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), hồ tiêu đang được giao dịch quanh 146.000 đồng/kg - mức cao nhất thị trường.
Tại Gia Lai, giá hồ tiêu đạt 145.500 đồng/kg, trong khi Đồng Nai giữ ở 145.000 đồng/kg - thấp nhất trong nhóm địa phương sản xuất chính.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu nhìn chung ít biến động. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), hồ tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm nhẹ 0,13%, xuống còn 6.973 USD/tấn.
Hồ tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ nguyên ở mức 6.175 USD/tấn, trong khi Malaysia duy trì 9.100 USD/tấn. Hồ tiêu đen xuất khẩu Việt Nam hiện dao động 6.400 - 6.500 USD/tấn cho loại 500 g/l và 550 g/l.
Về hồ tiêu trắng, giá Muntok Indonesia giảm nhẹ xuống 9.289 USD/tấn, còn Malaysia và Việt Nam lần lượt giữ ở 12.100 USD/tấn và 9.150 USD/tấn.
Lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang, giao dịch ổn định
Thị trường lúa gạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không có nhiều biến động, hoạt động mua bán lúa tươi khởi sắc, giá giữ ổn định.
Số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho thấy: lúa OM 18 tươi đang ở mức 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 hiện giảm 200 đồng/kg, dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hạ 50 đồng/kg, ở mức 7.900 - 8.010 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu khác gồm IR 504 (8.000 - 8.100 đồng/kg), OM 18 (8.900 - 9.100 đồng/kg), OM 380 (7.600 - 7.770 đồng/kg), OM 5451 (8.800 - 8.900 đồng/kg), Sóc thơm (7.500 - 7.600 đồng/kg) và gạo thành phẩm IR 504 (9.500 - 9.700 đồng/kg).
Tại chợ lẻ, giá gạo không thay đổi so với hôm qua: gạo Nàng Nhen cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; thơm Jasmine 13.000 - 14.000 đồng/kg; trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; Sóc thường 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường 12.000 - 13.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Giá các sản phẩm phụ từ gạo hiện ở mức 7.500 - 11.500 đồng/kg, trong đó tấm IR 504 giao dịch 7.500 - 7.600 đồng/kg và cám 10.500 - 11.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giảm nhẹ so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 316 - 320 USD/tấn; gạo Jasmine giảm 1 USD/tấn, còn 430 - 434 USD/tấn.













