Giá vàng SJC sáng 18/9 tăng 1,2 triệu đồng/lượng
Sáng 18/9, giá vàng miếng SJC tăng 1,2 triệu đồng mỗi lượng so với cuối phiên hôm trước, lên 144 triệu đồng mua vào và 147 triệu đồng bán ra. Dù phục hồi mạnh, khoảng chênh 3 triệu đồng vẫn tạo rủi ro cho người mua ngắn hạn, trong khi giá vàng nhẫn và kim cương tiếp tục phân hóa.

Người dân chọn mua vàng, trang sức tại một cửa hàng vàng ở TP Hồ Chí Minh.
Mua bán vẫn giữ mức cao
Mở cửa phiên giao dịch ngày 18/9, lúc 8 giờ 28 phút, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 144 triệu đồng/lượng mua vào và 147 triệu đồng/lượng bán ra. So với mức đóng cửa phiên giao dịch ngày 17/9 là 142,8 - 145,8 triệu đồng/lượng, giá vàng SJC đã tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Khoảng cách giữa giá mua vào và bán ra vẫn được giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Vàng miếng SJC loại 5 chỉ được mua với giá quy đổi 144 triệu đồng/lượng và bán ra 147,02 triệu đồng/lượng, chênh lệch 3,02 triệu đồng. Các loại 0,5 chỉ, 1 chỉ và 2 chỉ có giá mua tương đương nhưng giá bán lên tới 147,03 triệu đồng/lượng, đưa khoảng cách hai chiều lên 3,03 triệu đồng.
Giá vàng nhẫn SJC 99,99% loại 1-5 chỉ sáng nay cũng tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với cuối phiên hôm trước, giao dịch ở mức 143,5-146,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa hai chiều là 3 triệu đồng.

Bảng giá vàng cập nhật vào sáng ngày 18/09. Ảnh chụp màn hình
Trước giờ mở cửa sáng 18/9, giá vàng miếng SJC tại các doanh nghiệp có sự phân hóa khá rõ. Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá mua vào 142,8 triệu đồng/lượng và bán ra 145,83 triệu đồng/lượng, cùng giảm 100.000 đồng so với lần cập nhật trước. PNJ và Phú Quý giao dịch quanh mức 142,8 - 145,8 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, giá bán vàng miếng SJC tại Bảo Tín Minh Châu và DOJI cao hơn mặt bằng trên. Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức 142,7 - 146,7 triệu đồng/lượng, giảm 300.000 đồng ở cả hai chiều; DOJI giữ nguyên mức 142,5 - 146,5 triệu đồng/lượng. So với giá bán tại SJC, mức niêm yết của Bảo Tín Minh Châu cao hơn 870.000 đồng/lượng, còn DOJI cao hơn 670.000 đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán tại hai doanh nghiệp này cùng ở mức 4 triệu đồng/lượng, rộng hơn mức khoảng 3 triệu đồng tại SJC, PNJ và Phú Quý.
Ở chiều ngược lại, Mi Hồng niêm yết giá bán thấp hơn, ở mức 145,5 triệu đồng/lượng, nhưng giá mua vào cao nhất thị trường, đạt 144 triệu đồng/lượng sau khi tăng 500.000 đồng. Nhờ đó, chênh lệch mua - bán tại doanh nghiệp này chỉ còn 1,5 triệu đồng/lượng. Ngọc Thẩm có mức giá thấp nhất trong nhóm khảo sát, giao dịch ở mức 141 - 144,5 triệu đồng/lượng.

Khách hàng theo dõi diễn biến giá vàng trên điện thoại trước khi quyết định giao dịch.
Sự chênh lệch giữa các thương hiệu chủ yếu phản ánh chính sách giá, lượng vàng sẵn có, nhu cầu mua bán tại từng khu vực và biên độ phòng ngừa rủi ro của mỗi doanh nghiệp. Khi nguồn cung hoặc nhu cầu tại một hệ thống có sự khác biệt, doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá bán và khoảng cách mua - bán để cân đối tồn kho. Vì vậy, dù cùng kinh doanh vàng miếng SJC, giá niêm yết giữa các thương hiệu vẫn có thể chênh nhau từ vài trăm nghìn đến hơn 2 triệu đồng/lượng.
Chị Nguyễn Thị Hương, ngụ ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, mức tăng 1,2 triệu đồng chỉ sau một phiên khiến chị chưa quyết định mua ngay. Theo người này, giá phục hồi nhanh nhưng chênh lệch mua bán vẫn cao; nếu cần tiền và phải bán trong thời gian ngắn, người mua có thể chịu lỗ dù giá niêm yết tiếp tục đi lên.

Giá vàng nhẫn và vàng trang sức tiếp tục phân hóa giữa các thương hiệu, loại sản phẩm và trọng lượng.
Tiến sĩ Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, cho rằng người dân cần nhìn cả xu hướng giá và khoảng cách mua bán thay vì chỉ chú ý mức tăng trong ngày. Khi biên độ giao dịch ở mức 3-4 triệu đồng/lượng, hoạt động mua bán ngắn hạn tiềm ẩn rủi ro đáng kể. Người mua nên sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi, phân bổ tỷ trọng phù hợp và tránh tâm lý mua đuổi khi thị trường tăng nhanh.
Cùng với giá vàng tăng, thị trường kim cương tiếp tục được người tiêu dùng quan tâm, chủ yếu ở nhóm sản phẩm gắn trang sức cưới và quà tặng. Tuy nhiên, kim cương không có mức giá chung như vàng bởi giá trị mỗi viên phụ thuộc vào trọng lượng, màu sắc, độ tinh khiết, giác cắt, chứng thư kiểm định và thương hiệu phân phối.
Giá tham khảo trên thị trường cho thấy, kim cương tự nhiên tròn kích thước 4,5mm, nước D có thể dao động từ khoảng 27,5 triệu đồng đối với độ tinh khiết VVS2, khoảng 30,9 triệu đồng với VVS1 và 35,5 triệu đồng với cấp IF. Những viên có cùng kích thước nhưng khác tiêu chuẩn chất lượng có thể chênh lệch hàng triệu đến hàng chục triệu đồng.

Giá kim cương phụ thuộc vào trọng lượng, màu sắc, độ tinh khiết, giác cắt và chứng thư kiểm định.
Sức mua kim cương hiện tập trung nhiều hơn ở các viên kích thước nhỏ và trung bình, phù hợp khả năng chi trả của khách hàng. Tuy nhiên, giá doanh nghiệp mua lại thường thấp hơn đáng kể so với giá bán ban đầu do phải khấu trừ tiền công, vỏ trang sức, thương hiệu và chi phí kiểm định. Thị trường cũng chưa có bảng giá mua vào, bán ra thống nhất để người tiêu dùng đối chiếu như đối với vàng.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Thành phố Hồ Chí Minh, lưu ý người mua cần so sánh kim cương trên cùng tiêu chuẩn về trọng lượng, màu sắc, độ tinh khiết và giác cắt. Khách hàng cũng cần kiểm tra chứng thư, hóa đơn và chính sách thu đổi bằng văn bản trước khi giao dịch, nhất là khi mua với mục đích tích lũy.
Giá vàng thế giới tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ giảm
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tăng trong phiên giao dịch ngày 17/9 (giờ Mỹ), khi đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm và giá dầu đi xuống, giúp kim loại quý tiếp tục phục hồi sau quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Theo dữ liệu từ trang Kitco.com, vào lúc 21 giờ ngày 17/9 (giờ New York), tức 8 giờ ngày 18/9 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay ở mức 4.355,2 USD/ounce, tăng 0,32% so với phiên trước. Trong phiên, giá vàng dao động trong khoảng 4.256,7 - 4.381,6 USD/ounce.

Diễn biến giá vàng giao ngay trong phiên giao dịch tối 17/9 (giờ New York). Ảnh chụp màn hình: Kitco
Fed ngày 16/9 đã nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa biên độ lãi suất mục tiêu lên 3,75 - 4%. Các dự báo mới của Fed vẫn cho thấy khả năng có ít nhất một lần tăng lãi suất nữa trong năm nay, qua đó tiếp tục tạo sức ép đối với giá vàng trong trung hạn.
Tuy nhiên, trong phiên 17/9, thị trường tập trung nhiều hơn vào sự suy yếu của USD và lợi suất trái phiếu Mỹ. Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm xuống 4,93%, từ mức 5,01% cuối phiên trước, trong khi đồng USD hạ nhiệt sau khi tăng mạnh do quyết định của Fed. Diễn biến này giúp giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, qua đó hỗ trợ giá kim loại quý.
Giá dầu cũng giảm phiên thứ hai liên tiếp, qua đó làm giảm bớt sức ép lạm phát trong ngắn hạn, góp phần kéo lợi suất trái phiếu Mỹ đi xuống và hỗ trợ giá vàng.
Ông David Meger, Giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures, cho rằng giá vàng có mối quan hệ nghịch đảo khá chặt chẽ với giá năng lượng, do giá năng lượng tác động trực tiếp đến kỳ vọng lạm phát. Theo ông, đà giảm mạnh của giá năng lượng đã phần nào làm giảm sức ép đối với thị trường vàng.
Theo ông Jeff Sarti, Giám đốc điều hành công ty quản lý tài sản Morton Wealth, trong bối cảnh lạm phát còn dai dẳng và bất ổn kinh tế gia tăng, vàng vẫn đóng vai trò như một tài sản bảo hiểm. Ông cho rằng mức lợi suất khoảng 5% đối với trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm không đủ hấp dẫn nếu lạm phát tiếp tục ở mức cao, đồng USD biến động hoặc niềm tin vào chính sách tài khóa của Mỹ suy giảm. Theo chuyên gia này, diễn biến của thị trường trái phiếu dài hạn có thể có ý nghĩa đối với triển vọng của vàng hơn việc Fed có tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm hay không.
Dù vậy, triển vọng của vàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào định hướng lãi suất của Fed. Nếu áp lực lạm phát tiếp tục hạ nhiệt và lợi suất trái phiếu cùng đồng USD giảm, vàng có thể tiếp tục được hỗ trợ. Ngược lại, định hướng chính sách tiền tệ thắt chặt của Fed vẫn là yếu tố hạn chế đà tăng của kim loại quý.

Trang sức vàng được bày bán tại cửa hàng ở Baghdad, Iraq. Ảnh: THX/TTXVN
Về kỹ thuật, giá vàng đã vượt ngưỡng kháng cự 4.354 USD/ounce. Nếu duy trì trên ngưỡng này, giá có thể hướng tới các mục tiêu tiếp theo là 4.403 USD và 4.434 USD. Ở chiều ngược lại, vùng hỗ trợ gần nhất nằm tại 4.283 USD, tiếp đến là 4.256 USD và 4.215,59 USD.
Về địa chính trị, những diễn biến liên quan eo biển Hormuz tiếp tục tác động tới giá dầu, kỳ vọng lạm phát và nhu cầu đối với tài sản trú ẩn. Dù giá dầu đã giảm trong phiên, những rủi ro về nguồn cung năng lượng và gián đoạn vận chuyển vẫn có thể hỗ trợ nhu cầu đối với vàng.



