Giải mã đà tăng trưởng dẫn đầu cả nước của Quảng Ninh
Đà tăng trưởng bứt phá trong quý III đưa Quảng Ninh lên vị trí dẫn đầu cả nước, tạo thêm dư địa để địa phương tiến gần mục tiêu tăng trưởng 13%.
Trong quý III/2026, GRDP của Quảng Ninh tăng 15,04%, nâng mức tăng bình quân chín tháng lên 12,54%, cao nhất trong 34 tỉnh, thành phố. Thứ tự xếp hạng tiếp theo sau trong Top 5 là Hà Tĩnh, Hải Phòng, Bắc Ninh và Ninh Bình.
Cả nước có 12 địa phương đạt tăng trưởng trên hai chữ số, hầu hết đều tựa vào trụ cột công nghiệp, chế biến chế tạo, đầu tư và xuất khẩu.

Nhóm 5 địa phương có tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước trong chín tháng 2026.
Bảng xếp hạng cho thấy Quảng Ninh đang nằm ở nhóm mở rộng kinh tế nhanh nhất. Đáng chú ý hơn, vai trò của các động lực tăng trưởng đang có sự hoán đổi rõ rệt. Công nghiệp chế biến, chế tạo vươn lên thành hạt nhân mới, trong khi khai khoáng, năng lượng, đầu tư xây dựng và du lịch tiếp tục giữ nhịp đóng góp.
Động lực bứt phá từ công nghiệp chế biến, chế tạo
Nhiều năm qua, nhắc đến Quảng Ninh là nhắc đến than, điện và du lịch. Nhóm ngành truyền thống này vẫn giữ vai trò nền tảng. Song bức tranh chín tháng đầu năm 2026 đã ghi dấu bước tiến mạnh mẽ của khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo.
Cụ thể, giá trị tăng thêm của ngành này nhảy vọt 26,67%, đóng góp tới 3,82 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP chung. Riêng chỉ số sản xuất (IIP) của ngành tăng 33,59%. Trong khi đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 14,02%, dịch vụ tăng 13,82% và nông - lâm - thủy sản tăng 4,70%.
Mức tăng vượt trội này biến chế biến, chế tạo thành trụ cột đóng góp định lượng lớn nhất. Duy trì được xung lực này, Quảng Ninh sẽ mở ra không gian phát triển vượt khỏi giới hạn tài nguyên và cảnh quan sẵn có.
Sự chuyển dịch này là kết quả của chiến lược thu hút các dự án sản xuất quy mô lớn vào khu công nghiệp. Trong chín tháng, toàn bộ 12 dự án chế biến, chế tạo theo kế hoạch năm đều đã đi vào vận hành. Tỉnh thu hút hơn 1,314 tỷ USD vốn FDI, gồm 26 dự án mới (659,68 triệu USD) và 21 dự án tăng vốn (654,66 triệu USD).
Sự xuất hiện của các nhà máy sản xuất thiết bị điện tử, linh kiện, công nghiệp phụ trợ và sản phẩm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu đã đắp thêm một tầng hoạt động kinh tế mới. Cùng với khối doanh nghiệp hiện hữu, các cơ sở này gia tăng năng lực cung ứng, kích cầu lao động và mở rộng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Tuy nhiên, tăng trưởng nóng cũng đi kèm thách thức về tính ổn định. Qua chín tháng, sản lượng tấm silic mới đạt 92,89% kịch bản, ti vi đạt 96,25% do chịu tác động từ chính sách thuế và các rào cản thương mại từ Mỹ. Muốn duy trì sức bền, việc đa dạng hóa thị trường và phát triển chuỗi cung ứng nội địa là yêu cầu bắt buộc.

Quảng Ninh thu hút được các dự án sản xuất quy mô lớn vào khu công nghiệp. Ảnh: QN
Chuyển hóa dòng vốn thành năng lực sản xuất thực tế
Quy mô dòng vốn là chỉ dấu quan trọng cho sức khỏe kinh tế Quảng Ninh. Chín tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 97.948 tỷ đồng, tăng 17,4%. Vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt khoảng 225.572 tỷ đồng, với 78 dự án mới và 10 dự án điều chỉnh tăng vốn.
Để đón dòng vốn, Quảng Ninh tích cực mở rộng quỹ đất công nghiệp. Tỉnh đã thành lập sáu cụm công nghiệp với tổng diện tích 363,27 ha và khởi công chín cụm khác có diện tích 516,84 ha. Đồng thời, bảy cụm công nghiệp đang vận hành đã thu hút thêm 38 doanh nghiệp với tổng vốn 1.027 tỷ đồng.
Phía sau quy mô mở rộng là áp lực đè nặng lên hệ thống hạ tầng và chuỗi cung ứng nội địa. Một diện tích công nghiệp dù lớn đến đâu cũng chỉ mang lại giá trị thực khi doanh nghiệp có thể nhanh chóng 'sáng đèn' dây chuyền và vận hành thông suốt.
Đó là lý do đầu tư công được xác định là vốn mồi dẫn dắt. Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 sau điều chỉnh đạt 32.264 tỷ đồng, tăng 12.771 tỷ đồng so với đầu năm. Lũy kế chín tháng, giải ngân ước đạt 16.342 tỷ đồng, bằng 101,61% chỉ tiêu đến hết quý III.
Tỉnh cũng quyết liệt gỡ vướng mặt bằng và xử lý các dự án chậm tiến độ. Trong 32 dự án trọng điểm thuộc diện theo dõi tại các khu công nghiệp và khu kinh tế, đã có 10 dự án hoàn thành giải phóng mặt bằng, 22 dự án còn lại đang tiếp tục được đẩy nhanh.
Đầu tư công giúp kích cầu ngành xây dựng, vật liệu, dịch vụ và tạo nền tảng phát triển dài hạn. Dù vậy, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào tiến độ đưa công trình vào khai thác và mức độ kết nối với các hoạt động kinh tế.
Mở rộng quy mô và giá trị khu vực dịch vụ
Nếu chế biến, chế tạo tạo động lực sản xuất mới thì du lịch tiếp tục là đòn bẩy giúp Quảng Ninh phát huy lợi thế tự nhiên, văn hóa và hạ tầng dịch vụ.
Chín tháng đầu năm, tỉnh đón ước đạt 18,8 triệu lượt khách, tăng 9,9%, trong đó khách quốc tế đạt 4,21 triệu lượt, tăng 28%. Doanh thu du lịch đạt 56.400 tỷ đồng, tăng 27,38%; riêng dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 26.900 tỷ đồng, tăng 31,8%.
Điểm đáng chú ý là doanh thu tăng nhanh hơn đáng kể so với lượng khách, cho thấy các hoạt động kinh doanh đi kèm du lịch đang mở rộng.
Quảng Ninh sở hữu lợi thế lớn nhờ mô hình kết hợp giữa du lịch biển, di sản, nghỉ dưỡng và thương mại. Sự gia tăng du khách kéo theo nhu cầu vận tải, lưu trú, ẩm thực, mua sắm và giải trí. Do đó, hiệu quả kinh tế du lịch phụ thuộc nhiều vào khả năng giữ chân dòng tiền của du khách ở lại với hệ thống doanh nghiệp địa phương.
Cùng với du lịch, tổng doanh thu thương mại chín tháng đạt khoảng 465.300 tỷ đồng, tăng 25,7%; kim ngạch xuất khẩu đạt 3,545 tỷ USD, tăng 17,2%. Các chỉ số này củng cố thêm bức tranh mở rộng toàn diện của nền kinh tế.

Du lịch tiếp tục là đòn bẩy giúp Quảng Ninh phát huy lợi thế tự nhiên, văn hóa và hạ tầng dịch vụ. Ảnh: Hoàng Anh
Bài toán chất lượng tăng trưởng phía sau vị trí dẫn đầu của Quảng Ninh
Tăng trưởng cao tạo dư địa lớn nhưng cũng đặt ra áp lực giữ nhịp trong chặng nước rút. Quảng Ninh đặt mục tiêu GRDP cả năm tăng trên 13% trong khi kết quả chín tháng đã đạt 12,54%.
Để cán đích, tỉnh tập trung thúc đẩy sản xuất công nghiệp, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho dự án chậm tiến độ và khai thác tối đa dư địa dịch vụ, thương mại. Đợt thi đua cao điểm "90 ngày đêm" đã được phát động nhằm siết chặt tiến độ từ giải phóng mặt bằng, giải ngân đến thành lập doanh nghiệp mới.
Dù vậy, tốc độ tăng GRDP chỉ mới phản ánh một khía cạnh. Bài toán dài hạn của Quảng Ninh nằm ở chất lượng tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng và giảm thiểu tác động môi trường.
Thu hút các nhà máy lớn giúp gia tăng năng lực sản xuất tức thì nhưng giá trị bền vững sẽ nằm ở hiệu ứng lan tỏa đến doanh nghiệp trong nước, chất lượng việc làm và khả năng hình thành các trung tâm nghiên cứu, phát triển dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Song song đó, ngành du lịch cần nâng chất sản phẩm để kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu. Đồng thời, hạ tầng công nghiệp, logistics và giao thông phải được đầu tư đồng bộ để biến các dòng vốn thành năng lực kinh tế thực chất.

