Giám sát giải quyết kiến nghị cử tri Thước đo trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri không chỉ là trách nhiệm hiến định mà còn là thước đo bản lĩnh và hiệu quả đại diện của người đại biểu trước Nhân dân. Từ nền tảng pháp lý và thực tiễn hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ Khóa XV, việc làm rõ những kết quả đạt được cùng những nút thắt còn tồn tại sẽ mở ra những giải pháp thiết yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát trong giai đoạn mới.
Từ quy định Hiến định đến trách nhiệm thực thi
Hoạt động giám sát việc giải quyết kiến nghị, phản ánh của cử tri được xác lập trên nền tảng pháp lý tương đối đầy đủ và đồng bộ trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật hiện hành, thể hiện rõ bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An giám sát việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo
Hiến pháp năm 2013 – đạo luật cơ bản của Nhà nước đã khẳng định rõ vị trí, vai trò của Quốc hội và ĐBQH trong hoạt động giám sát. Điều 69 xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; Điều 70 quy định Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; Điều 79 nhấn mạnh ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử và của Nhân dân cả nước.
Những quy định mang tính hiến định đó đã đặt nền tảng pháp lý vững chắc cho trách nhiệm của ĐBQH không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận kiến nghị của cử tri, mà còn phải theo dõi, giám sát quá trình giải quyết các kiến nghị đó.
Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định rõ trách nhiệm của ĐBQH trong việc giữ mối liên hệ thường xuyên với cử tri; tiếp nhận, nghiên cứu, chuyển kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền; đồng thời theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết. Luật cũng đặt ra yêu cầu về trách nhiệm báo cáo kết quả trả lời kiến nghị với cử tri, qua đó tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 là căn cứ pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động giám sát, trong đó quy định đa dạng các hình thức giám sát của ĐBQH, như: giám sát thông qua tiếp xúc cử tri (TXCT) chất vấn, yêu cầu giải trình, giám sát văn bản trả lời kiến nghị và theo dõi việc thực hiện các cam kết sau giám sát. Đáng chú ý, luật nhấn mạnh yêu cầu hoạt động giám sát phải đi vào thực chất, đánh giá được hiệu quả, tính khả thi của việc giải quyết kiến nghị chứ không chỉ dừng lại ở hình thức hay số lượng văn bản trả lời.
Cùng với đó, các quy chế TXCT, nghị quyết, hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội đã hoàn thiện quy trình tiếp nhận, phân loại, chuyển giao và theo dõi việc giải quyết kiến nghị. Đây là khung pháp lý quan trọng bảo đảm hoạt động giám sát được triển khai thống nhất, chặt chẽ và có cơ chế kiểm soát trách nhiệm rõ ràng.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An tiếp xúc cử tri
Tuy nhiên, hiệu quả giám sát trên thực tế không phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng quy định pháp luật hay hình thức giám sát, mà phụ thuộc chủ yếu vào mức độ quyết liệt, kiên trì và tinh thần trách nhiệm của ĐBQH trong việc theo đuổi đến cùng các kiến nghị của cử tri.
Lắng nghe tâm tư, theo dõi kết quả đến cùng
Thực tiễn nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XV tại tỉnh Nghệ An cho thấy, hoạt động tiếp nhận, theo dõi và giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri được triển khai khá bài bản, có hệ thống thông qua các đợt TXCT trước và sau kỳ họp Quốc hội.

Nguyên Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An Trần Văn Mão phát biểu tại Hội trường tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XIV
Các kiến nghị của cử tri phản ánh nhiều vấn đề thiết thực, trực tiếp liên quan đời sống Nhân dân, như: chính sách cho ngư dân, chế độ người có công, nguồn lực sửa chữa trụ sở dôi dư, chính sách cho lực lượng cán bộ không chuyên trách trong công tác giải phóng mặt bằng – tái định cư, giao thông nông thôn, tài nguyên – môi trường, bảo hiểm xã hội… Đây chính là “đầu vào” quan trọng cho hoạt động giám sát, bảo đảm tiếng nói của Nhân dân được các cơ quan có thẩm quyền lắng nghe và xử lý.
Theo thống kê, trong nhiệm kỳ, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An có 928/986 kiến nghị được xem xét, giải quyết và trả lời, đạt 94,12%. Nhiều nội dung kiến nghị đã được Quốc hội tiếp thu, ban hành nghị quyết và giao Chính phủ xem xét, quyết định, trong đó có các vấn đề lớn, như: bổ sung kinh phí từ nguồn tăng thu ngân sách Trung ương năm 2022 để giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1A; bố trí vốn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2023 để sớm hoàn thành dự án kè sông Nậm Mộ (Kỳ Sơn); tháo gỡ vướng mắc Thủy điện Bản Vẽ; bố trí kinh phí thực hiện dự án hồ chứa nước Bản Mồng…
Qua từng kỳ họp, hoạt động giám sát được cụ thể hóa bằng những con số rõ ràng. Tại Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội Khóa XV, Đoàn tổng hợp 25 kiến nghị cử tri, đến đầu tháng 4/2025 đã có 19 kiến nghị được các bộ, ngành Trung ương trả lời (đạt khoảng 80%). Tại Kỳ họp thứ Chín, trong số 17 kiến nghị gửi Quốc hội, có 6/10 kiến nghị đã được trả lời tại thời điểm báo cáo, đạt tỷ lệ 60%.
Bên cạnh kết quả tích cực, thực tiễn cũng cho thấy, còn không ít hạn chế: một số kiến nghị giải quyết chậm, chưa triệt để hoặc mang tính hình thức; nội dung trả lời chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn; còn tình trạng “đã trả lời nhưng chưa được giải quyết”. Chất lượng một số kiến nghị còn chung chung, thiếu căn cứ pháp lý hoặc vượt thẩm quyền; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa thật chặt chẽ, đồng bộ.
Những tồn tại đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường trách nhiệm theo dõi đến cùng, lựa chọn đúng trọng tâm giám sát, phân công rõ trách nhiệm và tăng cường làm việc trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời thông tin kịp thời, đầy đủ cho cử tri.

Cử tri phát biểu tại buổi tiếp xúc với Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An
Từ thực tiễn nêu trên, việc nâng cao hiệu quả giám sát giải quyết kiến nghị cử tri cần được nhìn nhận như một quá trình tổng thể, đồng bộ.
Thứ nhất, đối với ĐBQH, cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng phân tích chính sách, kỹ năng giám sát, chất vấn; chủ động khảo sát thực tế thay vì chỉ dựa vào văn bản; phân công rõ trách nhiệm đại biểu theo từng lĩnh vực để nâng cao tính chuyên sâu và hiệu quả theo dõi.
Thứ hai, cần hoàn thiện quy trình theo dõi, giám sát và đánh giá kiến nghị theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, công khai tiến độ xử lý để người dân dễ dàng tra cứu, giám sát; quy định rõ thời hạn, trách nhiệm giải quyết và chế tài đối với các trường hợp giải quyết chậm, hình thức.
Thứ ba, tăng cường giám sát tại cơ sở thông qua khảo sát thực tế, lấy ý kiến trực tiếp từ người dân; đẩy mạnh phối hợp giữa các cơ quan trong tổng hợp, theo dõi tiến độ, tránh tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Giám sát việc giải quyết kiến nghị, phản ánh của cử tri là nhiệm vụ xuyên suốt, đòi hỏi bản lĩnh, trách nhiệm và sự kiên trì của ĐBQH. Thực tiễn tại Nghệ An cho thấy, hoạt động này đã có những chuyển biến tích cực, góp phần bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.












