Giảm tai nạn xe kinh doanh vận tải: Không thể chỉ quản lý bằng thủ tục
Với gần 1 triệu ô tô kinh doanh vận tải và hơn 100.000 đơn vị hoạt động toàn quốc, việc nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát phương tiện, lái xe và khai thác hiệu quả dữ liệu giám sát hành trình là yêu cầu cấp thiết nhằm chủ động phòng ngừa tai nạn.
Tai nạn xe vận tải còn diễn biến phức tạp
Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đang có quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, những bất cập trong quản lý phương tiện, lái xe, thời gian điều khiển phương tiện và khai thác dữ liệu giám sát vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.
Thực tế cho thấy, các vụ tai nạn liên quan đến xe kinh doanh vận tải vẫn diễn biến phức tạp, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức hoạt động và kiểm soát các điều kiện an toàn tại doanh nghiệp.

Hiện trường vụ xe khách va chạm hộ lan, bất ngờ bốc cháy trên quốc lộ 1A qua Đồng Nai khiến 7 người tử vong sáng 21/7.
Khoảng 2h ngày 21/7, tại Km1839+300 quốc lộ 1A, thuộc địa phận ấp Hưng Thịnh, xã Hưng Thịnh (TP Đồng Nai), anh Trần Thanh Hải (sinh năm 1985, trú tại tỉnh Khánh Hòa) điều khiển xe khách giường nằm biển số 50E-447.02, chở 36 người, lưu thông theo hướng từ Khánh Hòa về TP.HCM.
Khi phát hiện một xe tải đi cùng chiều, tài xế Hải do mệt mỏi, buồn ngủ đã giật mình đánh lái sang phải, va chạm với dải tôn hộ lan chắn bên phải đường.
Sau va chạm, ô tô khách bất ngờ bốc cháy tại khu vực gầm xe. Ngọn lửa bùng phát nhanh khiến toàn bộ xe bị cháy. Vụ tai nạn làm 7 người tử vong và 5 người bị thương.
Trước đó, khoảng 0h20 ngày 17/7, tài xế Nguyễn Văn B (sinh năm 1983, quê Thái Nguyên) điều khiển xe ô tô loại 38 chỗ, chở 32 người, biển số 20C-117.XX, lưu thông trên cao tốc theo hướng Nghệ An - Hà Nội.
Khi đến khu vực Km197+900 tuyến cao tốc Pháp Vân - Cao Bồ - Mai Sơn - quốc lộ 45, chiếc xe bất ngờ lao khỏi đường cao tốc, tông đổ dải hộ lan rồi văng xuống đường gom. Vụ tai nạn khiến 3 người tử vong tại chỗ, 1 người tử vong tại bệnh viện và 28 người bị thương.
Đây là hai trong số nhiều vụ tai nạn giao thông liên quan đến xe kinh doanh vận tải xảy ra thời gian qua. Trước thực trạng này, Cục CSGT cho biết sẽ tổ chức xác minh, đánh giá toàn diện công tác bảo đảm an toàn giao thông tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách theo quy định của pháp luật.
Nội dung rà soát tập trung vào trách nhiệm của bộ phận theo dõi công tác an toàn giao thông; công tác đào tạo, tập huấn kiến thức an toàn giao thông cho lái xe; việc theo dõi, vận hành hệ thống giám sát và camera lắp đặt trên xe khách.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, tính đến tháng 7/2026, cả nước có khoảng 956.062 ô tô kinh doanh vận tải, gồm 348.450 xe vận chuyển hành khách và 607.612 xe vận chuyển hàng hóa, với tổng số 100.303 đơn vị kinh doanh vận tải.
Trong lĩnh vực vận tải hành khách, xe hợp đồng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 245.764 xe, tương đương 70,53%. Tiếp đến là taxi với 70.241 xe, chiếm 20,16%. Vận tải hành khách tuyến cố định có 17.659 xe, xe buýt 8.950 xe và xe du lịch được cấp biển hiệu trước ngày 1/1/2025 có 4.629 xe. Ở lĩnh vực vận tải hàng hóa có 607.379 xe tải và 233 xe taxi tải.
Theo tài liệu tập huấn nghiệp vụ lái xe do Cục Đường bộ Việt Nam biên soạn, hoạt động vận tải hiện nay còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, loại hình đa dạng. Mô hình tổ chức, quản lý và phương pháp quản lý tại một số đơn vị còn thủ công, lạc hậu. Việc xây dựng thương hiệu chưa được nhiều doanh nghiệp chú trọng, dẫn đến sức cạnh tranh yếu, hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ chưa cao, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.

Theo cơ quan quản lý, việc tổ chức quản lý hoạt động vận tải tại các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông (ảnh minh hoạ).
Quản lý hoạt động vận tải còn nhiều bất cập từ phía doanh nghiệp
Theo Cục CSGT, qua rà soát dữ liệu hệ thống từ cuối tháng 7/2026, đơn vị phát hiện hơn 4.000 trường hợp lái xe kinh doanh vận tải có dấu hiệu vi phạm quy định về thời gian làm việc của lái xe.
Nhấn mạnh cần loại trừ các trường hợp phát sinh do lỗi thiết bị, ùn tắc giao thông hoặc yếu tố khách quan, ông Nguyễn Công Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam, cho biết con số trên vẫn phản ánh tình trạng lái xe làm việc quá sức còn tồn tại ở một bộ phận doanh nghiệp và tài xế.
Theo ông Nguyễn Công Hùng, doanh nghiệp vận tải phải chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức hoạt động, bố trí lịch trình và giám sát thời gian làm việc của lái xe. Nếu vì áp lực doanh thu mà sắp xếp lịch chạy vượt quá khả năng của người điều khiển phương tiện, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm.
Bên cạnh đó, người lái xe cũng cần tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, không vì thu nhập và áp lực công việc mà đánh đổi an toàn bằng việc cố tình điều khiển phương tiện khi đã vượt quá thời gian làm việc hoặc sức khỏe không bảo đảm.
Theo tài liệu tập huấn nghiệp vụ lái xe của Cục Đường bộ Việt Nam, một trong những tồn tại đáng lưu ý tại các đơn vị vận tải hiện nay là công tác quản lý lái xe và nhân viên phục vụ còn nhiều bất cập.
Nhiều đơn vị chưa quản lý đầy đủ hồ sơ lái xe, không tổ chức tuyển dụng theo quy trình, không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc không ký hợp đồng lao động đúng quy định. Một số trường hợp hợp đồng chỉ mang tính hình thức, thậm chí sử dụng hợp đồng thời vụ để đối phó khi có kiểm tra.
Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành vận tải tại các đơn vị còn thiếu, đặc biệt số đơn vị có cán bộ được đào tạo chuyên ngành vận tải rất ít.
Bộ phận theo dõi, quản lý các điều kiện an toàn giao thông ở nhiều doanh nghiệp cũng chưa hoạt động thực chất, thậm chí chỉ được thành lập trên giấy tờ để hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy phép kinh doanh.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị doanh nghiệp chưa được quan tâm, đầu tư tương xứng. Đây là một trong những nguyên nhân khiến hoạt động quản lý phương tiện, lái xe và an toàn giao thông chưa đạt hiệu quả như yêu cầu.
Bên cạnh công tác quản lý lái xe, quản lý phương tiện cũng là yếu tố quan trọng trong bảo đảm an toàn vận tải.
Theo tài liệu tập huấn nghiệp vụ lái xe của Cục Đường bộ Việt Nam, một số lượng lớn đơn vị vận tải chưa nắm được đầy đủ tình trạng kỹ thuật phương tiện. Hồ sơ lý lịch xe không có hoặc được lập sơ sài, mang tính đối phó.
Việc theo dõi tổng số kilomet xe chạy, bảo dưỡng định kỳ và kiểm tra an toàn kỹ thuật phương tiện trước khi đưa vào hoạt động cũng chưa được thực hiện đầy đủ.
Một vấn đề đáng chú ý khác là cơ chế khoán doanh thu đang được áp dụng tại đa số đơn vị, thậm chí có tình trạng "khoán trắng". Người nhận khoán chủ yếu quan tâm đến doanh thu, lợi nhuận, trong khi ít chú trọng đến an toàn và chất lượng dịch vụ.
Khi mục tiêu doanh thu trở thành áp lực thường xuyên, một số đơn vị kinh doanh vận tải có thể vi phạm các quy định trong hoạt động vận tải, đồng thời tạo sức ép lên lái xe phải tranh giành khách, quay vòng phương tiện nhanh.
Trong khi đó, công tác phòng ngừa tai nạn chưa được quan tâm đúng mức. Khi tai nạn xảy ra, nhiều đơn vị chủ yếu tập trung giải quyết vụ việc mà chưa đi sâu phân tích nguyên nhân để đưa ra giải pháp khắc phục, phòng ngừa tái diễn.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh vận tải, hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi phương tiện theo thời gian thực. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn bộc lộ nhiều hạn chế.
Chất lượng một số thiết bị chưa ổn định; tình trạng mất kết nối, can thiệp làm gián đoạn truyền dữ liệu vẫn xảy ra. Nhiều đơn vị vận tải chưa khai thác hiệu quả dữ liệu để quản lý lái xe, phương tiện; bộ phận quản lý an toàn vẫn mang tính hình thức.
Việc chia sẻ, phân tích dữ liệu giữa các cơ quan còn hạn chế, trong khi kiểm tra, xử lý vi phạm dựa trên dữ liệu điện tử chưa phát huy hết hiệu quả.
Những bất cập này làm giảm hiệu quả của hệ thống giám sát hành trình, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao chất lượng thiết bị và tăng cường ứng dụng công nghệ số.
Đặc biệt, dữ liệu giám sát hành trình hiện chưa được khai thác hiệu quả trong quản lý thời gian lái xe. Việc quản lý chủ yếu gắn với phương tiện thay vì từng lái xe khiến việc kiểm soát trường hợp một lái xe điều khiển nhiều phương tiện hoặc làm việc cho nhiều đơn vị gặp khó khăn.
Dữ liệu giữa các phương tiện chưa được liên thông, gây khó khăn trong xác định chính xác tổng thời gian lái xe trong ngày. Trong khi đó, áp lực khai thác vẫn có thể khiến lái xe vi phạm quy định về thời gian điều khiển phương tiện, còn nhiều đơn vị chưa thực hiện hiệu quả việc giám sát, cảnh báo và điều chỉnh kế hoạch vận tải.
Công tác kiểm tra cũng gặp khó khăn do thiếu công cụ phân tích dữ liệu tập trung và chưa có cơ chế định danh, quản lý thống nhất theo từng lái xe trên phạm vi toàn quốc.

Theo các chuyên gia, muốn giảm nguy cơ tai nạn, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý mang tính thủ tục sang quản trị an toàn thực chất tại các doanh nghiệp vận tải (ảnh minh hoạ).
Chuyển từ quản lý thủ tục sang quản trị an toàn thực chất
Bên cạnh quản lý phương tiện, lái xe và dữ liệu, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ lái xe kinh doanh vận tải và tuyên truyền pháp luật về an toàn giao thông cũng là nội dung cần được các đơn vị quan tâm đúng mức.
Theo các chuyên gia, từ thực tiễn hoạt động vận tải có thể thấy, muốn giảm nguy cơ tai nạn, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý mang tính thủ tục sang quản trị an toàn thực chất.
Doanh nghiệp phải kiểm soát được phương tiện từ tình trạng kỹ thuật, lịch bảo dưỡng đến quá trình khai thác; quản lý được từng lái xe, thời gian làm việc và mức độ tuân thủ; đồng thời sử dụng dữ liệu để cảnh báo sớm và phòng ngừa rủi ro.
Cùng với đó, việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tăng khả năng liên thông, định danh lái xe và khai thác dữ liệu giám sát hành trình sẽ là nền tảng để chuyển từ quản lý bị động sang chủ động phòng ngừa tai nạn.
Khi an toàn được đặt ở vị trí trọng tâm trong hoạt động kinh doanh, bộ phận quản lý an toàn được vận hành thực chất và dữ liệu được sử dụng hiệu quả để cảnh báo, điều chỉnh hành vi, doanh nghiệp vận tải sẽ phát huy vai trò chủ động trong xây dựng môi trường giao thông an toàn.
Đây cũng là cơ sở để các đơn vị từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng uy tín, phát triển hoạt động kinh doanh bền vững và góp phần bảo đảm an toàn cho người dân trên mỗi hành trình.
