Giảm thiệt hại thiên tai ở Miền Trung - Tây Nguyên: Tư duy mới từ cơ sở
Từ Quảng Trị, Huế đến Đắk Lắk, chính quyền và lực lượng tại chỗ đang chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, giảm thiệt hại do thiên tai.
Không đợi nước dâng mới lo cứu hộ, không chờ bão lũ qua đi mới khắc phục hậu quả, đó là tinh thần đang được hiện thực hóa ở các địa bàn trọng điểm, thường xuyên hứng chịu thiên tai như Quảng Trị, Huế và Đắk Lắk.
Khi tư duy phòng ngừa được đặt lên hàng đầu, mỗi người dân, mỗi cấp chính quyền và lực lượng vũ trang tại chỗ đang trở thành những “lá chắn” vững chắc để giảm thiểu thiệt hại trước thiên tai.
*Biến “bị động” thành “chủ động”
Giữa tháng 9, khi nhiều người dân miền Trung vẫn nghĩ mùa lũ lớn còn ở phía trước, nước sông Sê Pôn dâng cao đã gây áp lực lớn lên xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Chính quyền địa phương phải khẩn trương triển khai phương án sơ tán 129 hộ với khoảng 400 nhân khẩu ra khỏi khu vực có nguy cơ mất an toàn.

Lực lượng chức năng giăng dây cảnh báo, khoanh vùng khu vực ngập nước tại xã Hưng Lộc, thành phố Huế, bảo đảm an toàn cho người dân và phương tiện. Ảnh: TTXVN phát
Sau lũ, thống kê cho thấy 312 ngôi nhà bị ngập sâu, 6 ha hoa màu và 19 ha cây trồng hàng năm bị hư hỏng; 1.250 con gia cầm bị chết, 2 ha hồ cá bị sạt lở, mức độ thiệt hại từ 30-70%.
Những con số ấy cho thấy sức ép của thiên tai đối với một địa bàn miền núi, biên giới, nơi địa hình chia cắt và giao thông có thể nhanh chóng bị ảnh hưởng khi mưa lớn kéo dài. Nhưng phía sau những con số thiệt hại là một chuyển động đáng chú ý: chính quyền và lực lượng tại chỗ phải hành động trước khi tình huống trở nên không thể kiểm soát.
Trong đợt mưa lũ giữa tháng 9, toàn tỉnh Quảng Trị đã tổ chức sơ tán 925 hộ với 3.550 người ra khỏi các khu vực có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở. Cùng với chính quyền cơ sở, lực lượng vũ trang được đặt trong trạng thái sẵn sàng cao, trực tiếp tham gia bảo vệ dân, kiểm soát các điểm nguy hiểm, hỗ trợ di chuyển tài sản và xử lý những vị trí giao thông bị chia cắt.
Tại các tuyến miền núi, Bộ đội Biên phòng Quảng Trị duy trì 372 cán bộ, chiến sĩ cùng 28 phương tiện cơ động. Lực lượng được bố trí tại cơ quan chỉ huy, các hải đội, tiểu đoàn và các đồn biên phòng để có thể nhanh chóng tiếp cận địa bàn khi xảy ra tình huống.
Trên những tuyến giao thông bị sạt lở như Quốc lộ 15D, các khu vực Đakrông, Ba Nang, A Dơi..., cán bộ, chiến sĩ vừa làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn địa bàn, vừa tham gia dọn đất đá, mở đường phục vụ cứu trợ và tiếp cận người dân.
Không chỉ ở vùng biên giới, lực lượng Công an và dân quân tự vệ cũng được tổ chức theo phương châm “4 tại chỗ”, lập chốt, phân luồng giao thông tại những điểm ngập sâu, ngăn người và phương tiện đi vào vùng nguy hiểm. Khi nước lên nhanh, những người có mặt tại địa bàn trước tiên chính là lực lượng tạo nên “lá chắn” đầu tiên bảo vệ dân.
Đó cũng là ý nghĩa thực chất của việc chuyển từ “chống” sang “phòng”. Khi chính quyền biết trước khu vực nào nguy hiểm, biết hộ dân nào cần di dời, lực lượng nào có thể tiếp cận, phương tiện nào được huy động và điểm nào có thể làm nơi tránh trú, việc ứng phó không còn bắt đầu từ thời điểm thiên tai đã gây hậu quả.
Thực tế tại Quảng Trị cho thấy phương châm “4 tại chỗ” chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được chuẩn bị bằng những phương án cụ thể, cập nhật thường xuyên và có lực lượng đủ khả năng triển khai ngay trong những giờ đầu tiên.
*“Giờ vàng” từ hệ thống cảnh báo và lực lượng tại chỗ
Nếu Quảng Trị cho thấy sức mạnh của lực lượng tại chỗ, Huế lại cho thấy một khâu quan trọng khác của phòng, chống thiên tai: chuẩn bị trước cả khi có lệnh sơ tán.

Lực lượng Bộ đội Đồn Biên phòng Ba Nang (Quảng Trị) dọn dẹp đất đá tại vị trí sạt lở, khẩn trương khơi thông tuyến đường phục vụ việc đi lại và hỗ trợ người dân. Ảnh: TTXVN phát
Trước cao điểm mùa mưa bão năm 2026, thành phố đã rà soát 13.375 hộ với 41.372 nhân khẩu có nguy cơ phải sơ tánl trong đó xác định 1.125 người thuộc nhóm yếu thế để có phương án hỗ trợ riêng. Ở các khu vực có nguy cơ bị chia cắt dài ngày như Nam Đông, A Lưới, phương án dự trữ tại chỗ được tính toán với khoảng 5 tấn gạo, 500 thùng mì ăn liền và 1.000 thùng nước uống cho mỗi khu vực.
Cùng với việc xác định “ai cần đi trước”, ngành chức năng còn liên tục cập nhật cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại những khu vực nguy hiểm như đèo Phú Gia, Hải Vân, đường Hồ Chí Minh, A Lưới, Bạch Mã... Thông tin được truyền tải qua nhiều kênh để giảm nguy cơ cảnh báo chỉ dừng lại ở cơ quan chuyên môn mà không đến được với người dân.
Trong tình huống khẩn cấp, thời gian từ lúc nhận được cảnh báo đến khi thiên tai tác động trực tiếp chính là “giờ vàng”. Mỗi phút trong khoảng thời gian này đều có thể quyết định một hộ dân có kịp di chuyển khỏi vùng nguy hiểm hay không, một tuyến đường có được phong tỏa trước khi nước dâng hay không, lực lượng cứu hộ có tiếp cận được hiện trường hay phải chờ nước rút.
Bởi vậy, bên cạnh hệ thống cảnh báo, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định. Bộ đội Biên phòng, Công an, quân đội, dân quân và lực lượng xung kích ở cơ sở chính là những người biến cảnh báo thành hành động cụ thể.
Một minh chứng là sự cố ba sà lan trôi tự do tại khu vực cầu đường sắt Mỹ Chánh, tỉnh Quảng Trị trong đợt lũ vừa qua. Nước lũ sông Thác Ma dâng cao cuốn trôi các phương tiện, đe dọa trực tiếp đến tuyến giao thông Bắc - Nam. Lực lượng chức năng được huy động xử lý trong thời gian ngắn, chỉ sau 1 ngày đã di dời thành công hai phương tiện, trong đó có sà lan lớn nhất đang đè lên dầm cầu, loại trừ nguy cơ ảnh hưởng đến kết cấu cầu đường sắt và đường bộ.
Ở phía Tây tỉnh Quảng Trị, những điểm sạt lở trên Quốc lộ 15D, các tuyến đường qua Đakrông, Ba Nang, A Dơi hay những điểm ngập sâu tại các tuyến giao thông liên vùng tiếp tục đặt ra yêu cầu phải có lực lượng bám địa bàn. Trong những tình huống ấy, công nghệ dự báo có thể cho biết nơi nào nguy hiểm, nhưng để đưa người dân ra khỏi vùng nguy hiểm vẫn cần những con người cụ thể, những phương tiện cụ thể và một mệnh lệnh được triển khai đủ nhanh.
Cùng với lực lượng vũ trang, cộng đồng cũng ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng. Người dân phát hiện vết nứt trên núi, báo điểm ngập, hỗ trợ người già và trẻ em sơ tán, chia sẻ thông tin trên các kênh liên lạc cộng đồng. Khi nhiều lớp cảnh báo và ứng phó cùng hoạt động, khoảng trống giữa “biết có nguy hiểm” và “hành động để tránh nguy hiểm” được rút ngắn.
*Tăng sức chống chịu để không phải bắt đầu lại sau mỗi mùa lũ
Chủ động trước thiên tai không chỉ là sơ tán nhanh hơn hay cứu hộ tốt hơn. Một bước chuyển quan trọng hơn là giảm mức độ tổn thương của cộng đồng trước khi thiên tai xảy ra.

Nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp tránh lũ hai tầng tại xã Hòa Xuân (Đắk Lắk) được xây dựng nhằm tạo điểm tránh trú an toàn cho người dân vùng trũng thấp khi xảy ra ngập lụt. Ảnh: TTXVN phát
Tại Đắk Lắk, sau những trận lũ lớn, nhiều hộ dân ở vùng trũng thấp thuộc khu vực Hòa Thịnh, Hòa Mỹ đã thay đổi cách sản xuất. Một số hộ chủ động bán sớm gia súc, gia cầm trước mùa mưa lũ, đưa nông sản lên vị trí cao thay vì tiếp tục tích trữ trong nhà. Đó là sự thay đổi nhỏ ở cấp hộ dân nhưng phản ánh một cách tiếp cận mới: không chỉ chờ lực lượng cứu hộ đến khi nước đã dâng mà chủ động giảm phần tài sản có nguy cơ mất trắng.
Ở quy mô cộng đồng, Đắk Lắk dự kiến huy động gần 171 tỷ đồng xây dựng 100 nhà sinh hoạt cộng đồng hai tầng tại 27 xã, phường vùng trũng thấp, mỗi công trình có sức chứa hơn 200 người. Những công trình này vừa phục vụ sinh hoạt cộng đồng trong điều kiện bình thường, vừa có thể trở thành điểm tránh trú khi lũ xảy ra.
Tại xã Đồng Xuân, mô hình nhà phao chống lũ cho 50 hộ dân vùng trũng ven sông Kỳ Lộ lại đưa ra một cách thích ứng khác. Nhà có khả năng tự nâng theo mực nước, giúp người dân có thêm không gian an toàn để bảo vệ người và tài sản. Với những hộ từng trải qua lũ lớn, một điểm tránh trú chủ động không chỉ có giá trị vật chất mà còn tạo tâm thế bình tĩnh hơn khi mùa mưa đến.
Cùng với hạ tầng, năng lực dự báo và cảnh báo cũng đang được đầu tư. Đắk Lắk vận hành 95 trạm đo mưa tự động và 6 tháp báo lũ số hóa, theo dõi diễn biến thời tiết theo thời gian thực. Thông tin cảnh báo được truyền qua tin nhắn, mạng xã hội, loa truyền thanh cơ sở và các nền tảng số, hướng tới mục tiêu thông tin phải đến được với hộ dân cuối cùng.
Ở lưu vực sông Ba, yêu cầu chống “lũ chồng lũ” cũng đặt ra bài toán vượt ra ngoài ranh giới một địa phương. Việc phối hợp vận hành các hồ chứa lớn như Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H’Năng có ý nghĩa quan trọng trong điều tiết dòng chảy và giảm áp lực cho vùng hạ du. Cùng với đó là các dự án nâng cấp giao thông, gia cố mái taluy, đê kè và các công trình cộng đồng nhằm tăng khả năng chống chịu trước những trận mưa lũ ngày càng khó dự đoán.
Nhìn từ Quảng Trị, Huế đến Đắk Lắk, một tư duy mới đang dần hình thành: thiên tai có thể không ngăn được, nhưng thiệt hại có thể được giảm từ trước khi thiên tai xảy ra.
Để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào một lực lượng hay một giải pháp riêng lẻ. Cần chính quyền cơ sở nắm chắc từng khu dân cư có nguy cơ; lực lượng quân đội, công an, biên phòng và xung kích đủ sức cơ động trong “giờ vàng”; hệ thống cảnh báo đủ nhanh và đủ gần người dân; hạ tầng được thiết kế để chịu được rủi ro; đồng thời chính mỗi hộ gia đình cũng phải biết mình cần làm gì trước khi nước dâng, đất trượt hay đường bị chia cắt.
Từ một xã biên giới như Lao Bảo đến những vùng trũng ven sông ở miền Trung và các khu vực từng chịu lũ lớn ở Đắk Lắk, bài toán phòng, chống thiên tai vì thế không còn chỉ là “chống lại” một trận lũ. Đó là quá trình chuẩn bị từ sớm, hành động từ cơ sở, huy động sức mạnh của cả hệ thống và từng bước tạo dựng khả năng sống chung an toàn với thiên tai.


