Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục: Cần một cơ chế dễ tiếp cận

Chính sách giảm trừ chi phí giáo dục, y tế khi tính thuế thu nhập cá nhân mở thêm một lớp hỗ trợ đối với người làm công ăn lương, nhất là các gia đình có con đang đi học hoặc phát sinh chi phí khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, để chính sách không chỉ đúng về quy định mà còn thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chứng từ, đối soát dữ liệu và thủ tục quyết toán theo hướng đơn giản, thuận tiện cho người dân.

Đừng để chứng từ trở thành rào cản

Đầu năm học mới, cùng với niềm vui đưa con đến trường là bài toán chi tiêu của nhiều gia đình. Học phí, tiền ăn, phương tiện đi lại và các khoản phục vụ học tập khiến chi phí giáo dục trở thành một khoản đáng kể trong ngân sách hộ gia đình. Tương tự, khi phát sinh bệnh tật, chi phí khám, chữa bệnh cũng có thể tạo áp lực lớn, ngay cả với những người có thu nhập ổn định.

Trong bối cảnh đó, việc bổ sung cơ chế giảm trừ chi phí giáo dục, y tế khi tính thuế thu nhập cá nhân là bước tiến đáng ghi nhận. Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, từ ngày 1-7-2026, người nộp thuế có thể được giảm trừ tối đa 47 triệu đồng/năm, gồm tối đa 23 triệu đồng đối với chi phí y tế và 24 triệu đồng đối với chi phí giáo dục.

Điểm cần lưu ý, đây chỉ là mức trần được giảm trừ, không phải khoản tiền người dân được nhận hay hoàn lại. Chỉ những khoản chi phí thực tế do người nộp thuế hoặc người phụ thuộc tự chi trả, đáp ứng đầy đủ điều kiện và có chứng từ hợp lệ mới được tính vào khoản giảm trừ.

Chính sách giảm trừ chi phí giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân là thiết thực, giảm gánh nặng cho phụ huynh học sinh. Ảnh: Thanh Tùng

Chính sách giảm trừ chi phí giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân là thiết thực, giảm gánh nặng cho phụ huynh học sinh. Ảnh: Thanh Tùng

Chị Nguyễn Thị Huệ, phường Dương Nội, Hà Nội đánh giá, chính sách giảm trừ chi phí giáo dục là thiết thực, bởi học phí và các khoản phục vụ việc học đang ngày càng trở thành gánh nặng đáng kể đối với nhiều gia đình. Tuy nhiên, điều khiến phụ huynh băn khoăn là việc chứng minh khoản chi để được hưởng chính sách. “Phụ huynh thường đóng nhiều khoản cùng lúc, trong đó có học phí và các khoản dịch vụ khác. Nếu quy định yêu cầu chứng từ quá chi tiết, chúng tôi lo rằng đến khi quyết toán mới phát hiện một khoản chi không đủ điều kiện hoặc thiếu giấy tờ thì quyền lợi sẽ bị bỏ lỡ”, phụ huynh này chia sẻ.

Ở góc độ chuyên gia, ông Nguyễn Văn Được, Giám đốc Công ty Luật TNHH Thuế và Kế toán Trọng Tín cho rằng: Việc đưa chi phí y tế, giáo dục vào diện giảm trừ có ý nghĩa chia sẻ gánh nặng tài chính với người nộp thuế. Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống, cần bảo đảm người dân có thể chứng minh khoản chi một cách đơn giản, minh bạch.

Thực tế cho thấy, yêu cầu chứng từ là cần thiết để ngăn ngừa việc kê khai khống, nhưng nếu quy định quá cứng nhắc, chính yêu cầu này có thể trở thành điểm nghẽn.

Đối với giáo dục, các khoản học phí thuộc phạm vi quy định tại cơ sở giáo dục trong nước có thể được xem xét giảm trừ. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền phụ huynh đóng cho nhà trường đều được coi là học phí. Tiền ăn bán trú, xe đưa đón, đồng phục, giáo trình hay hoạt động ngoại khóa cần được phân định rõ.

Với chi phí y tế, phần đã được bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức khác thanh toán, hỗ trợ cũng không được tiếp tục tính vào phần chi phí cá nhân tự chịu.

Đồng tình quan điểm, chuyên gia thuế Nguyễn Ngọc Tú khuyến nghị, năm đầu thực hiện chính sách cần có hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu và linh hoạt về hồ sơ chứng minh. Trong trường hợp thông tin có thể đối chiếu, cơ quan quản lý có thể nghiên cứu chấp nhận các loại chứng từ phù hợp như phiếu thu, chứng từ chuyển khoản, xác nhận của nhà trường hoặc cơ sở khám, chữa bệnh.

Khuyến nghị này cần được xem xét trên nguyên tắc không hạ thấp yêu cầu kiểm soát, nhưng giảm chi phí tuân thủ cho người dân. Người nộp thuế không nên bị mất quyền lợi đối với một khoản chi có thật chỉ vì cách thức chứng minh chưa phù hợp với thực tế giao dịch.

Về lâu dài, đây cũng là lý do cần đẩy nhanh kết nối dữ liệu hóa đơn điện tử giữa cơ sở giáo dục, cơ sở y tế và cơ quan thuế. Khi một khoản học phí hoặc chi phí khám, chữa bệnh đã được ghi nhận trên hệ thống, việc xác minh có thể chuyển từ trách nhiệm thu thập giấy tờ của người dân sang cơ chế đối soát dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị.

Từ giảm trừ đến một chính sách thuế sát đời sống hơn

Một vấn đề khác cần được tính đến là mức trần giảm trừ. Với giáo dục, mức tối đa 24 triệu đồng/năm tương đương 2 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, chi phí học tập thực tế có thể rất khác nhau giữa các gia đình, địa bàn và cấp học.

Do đó, thay vì cố định mức trần trong thời gian dài, chính sách nên có cơ chế rà soát, điều chỉnh định kỳ dựa trên biến động chi phí giáo dục và y tế. Việc điều chỉnh cần dựa trên dữ liệu thực tế, khả năng ngân sách và mục tiêu phân bổ nguồn lực, qua đó bảo đảm chính sách vừa có tính hỗ trợ, vừa kiểm soát được thất thu.

Cùng với đó, cần làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, y tế trong việc cung cấp hóa đơn, chứng từ. Quyền lợi thuế của người dân không nên phụ thuộc quá lớn vào mức độ chủ động của từng cơ sở.

Các đơn vị cung cấp dịch vụ cần có quy trình thống nhất về xuất hóa đơn, xác nhận khoản chi và thông tin người sử dụng dịch vụ. Cơ quan thuế có thể xây dựng hướng dẫn mẫu, thậm chí tích hợp các yêu cầu này vào hệ thống hóa đơn điện tử để giảm cách hiểu khác nhau giữa các đơn vị.

Đặc biệt, cần tăng cường truyền thông chính sách ngay từ thời điểm phát sinh khoản chi thay vì chỉ hướng dẫn vào mùa quyết toán thuế. Người dân cần biết ngay khoản nào được giảm trừ, khoản nào không, cần lấy chứng từ gì và phải lưu giữ trong bao lâu.

Theo ông Nguyễn Văn Được, người nộp thuế nên chủ động lưu giữ chứng từ ngay khi phát sinh chi phí, đồng thời ưu tiên thanh toán qua phương thức không dùng tiền mặt khi có thể. Đây không chỉ là cách bảo vệ quyền lợi của người dân mà còn góp phần tạo dữ liệu minh bạch cho cơ quan quản lý.

Một điểm đáng lưu ý là người muốn áp dụng khoản giảm trừ giáo dục, y tế phải thực hiện tự quyết toán thuế theo quy định. Điều này càng cho thấy cần đơn giản hóa quy trình quyết toán, tăng khả năng kê khai trực tuyến và tự động hóa việc đối chiếu dữ liệu.

Giảm trừ chi phí giáo dục, y tế vì thế không nên chỉ được nhìn như một khoản ưu đãi thuế mới. Đây là cơ hội để tiếp tục chuyển chính sách thuế thu nhập cá nhân theo hướng phản ánh sát hơn khả năng đóng góp thực tế của người dân.

Phương Nga

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/giam-tru-chi-phi-y-te-giao-duc-can-mot-co-che-de-tiep-can-1707667.html