Giấy bạc Tài chính Nam Bộ (1947-1954) - Kỳ VIII
Ngày 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp đã đánh chiếm Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, âm mưu lấn chiếm Nam Bộ, mở rộng chiến tranh xâm lược dần ra cả nước. Do bị địch chiếm đóng, tại Nam Bộ, nhân dân ta phải tiêu dùng hoàn toàn tiền Đông Dương. Bên cạnh đó, Nam Bộ còn sử dụng Tiền Trung ương phát hành từ Liên khu V đưa vào gồm các mệnh giá: 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Vì thiếu bạc lẻ, nhiều khi, nhân dân ta đã tự xé đôi tờ tiền Đông Dương có mệnh giá nhỏ để tiêu dùng.
Theo Nghị định số 23/ND-KT-54 ngày 22/7/1954, NHND Nam Bộ cho phát hành hai tờ giấy bạc tài chính mệnh giá lớn: 200 đồng và 500 đồng, trong đó tờ giấy bạc 200 đồng đã in nhưng chưa kịp đưa vào lưu hành thì ta phải tiến hành chuyển quân tập kết theo Hiệp định Genevơ. Tờ giấy bạc 200 đồng, màu xanh cả hai mặt, mặt trước in hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thẳng ở bên trái, mặt sau in cảnh giao thương trên sông.

Giấy bạc 200 đồng (không lưu hành)
Sau khi Hiệp định Genevơ được ký kết, hai bên thỏa thuận việc tập kết chuyển quân. Để đảm bảo giá trị tài sản của nhân dân, ở Nam Bộ, công tác thu hồi giấy bạc Nam bộ (đổi lấy tiền Đông Dương) chính thức bắt đầu từ ngày 15/8/1954 và tiến hành theo 3 bước:
- Bước 1: Bắt đầu từ ngày 15/8/1954, kết thúc vào ngày 22/8/1954 (là thời gian chuẩn bị cho chính quyền ta rút về vùng tập kết ở Bạc Liêu ngày 26/8/1954). Phương châm thu đổi là đổi trước cho dân nghèo ít tiền còn đối với người nhiều tiền thì đổi trước cho một phần để chi dùng cấp thời, còn lại sẽ đổi tiếp ở các trạm vùng ranh giới.
- Bước 2: Từ 01/9/1954 đến 27/10/1954, thực hiện thu đổi tự do ở vùng ranh giới tập kết. Từ 01/10/1954 trở đi, trong khi chủ trương hối đoái tự do chung cho tỉnh Bạc Liêu thì ở thị trấn Cà Mau, Giá Rai, Tắc Vân lại cho phép song song lưu hành cả hai thứ tiền. Vào lúc này, nhờ có nguồn vốn tiền Đông Dương của Trung ương đưa vào, nên đã có điều kiện chuyển từ “hối đoái tự do” thành hối đoái thu hồi một cách thuận lợi.
- Bước 3: Từ ngày 01/11/1954, ta tiến hành thu hồi toàn bộ giấy bạc Việt Nam trong tỉnh Bạc Liêu, đến ngày 4/01/1955 thì hoàn thành công tác thu đổi. Kết quả, từ 01/9/1954 đến 5/01/1955, trên toàn Nam bộ, ta đã thu hồi được 1.428.618.944 đồng.
Trong quá trình rút lui trận địa tiền tệ, đã áp dụng nhiều tỷ giá: 1/35: thời gian đầu; 1/36: hối đoái tự do; 1/37: ở Giá Rai cho người có chứng phiếu sở hữu ngoại hối cũ; 1/40: hối đoái thu hồi; 1/50: cho miền Đông.
Đồng thời với công tác thu đổi, chính quyền cách mạng còn chủ trương thanh toán các khoản nợ dân như: tiền gửi, tiền tín dụng lưu ký của tư nhân. Riêng công phiếu kháng chiến thì Chính phủ tuyên bố hoãn lại đến sau ngày tổng tuyển cử sẽ giải quyết.
Như vậy, có thể thấy rằng việc hình thành 3 khu vực tiền tệ riêng phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi vùng là một chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên lĩnh vực tài chính tiền tệ. Chế độ tiền tệ riêng với nhiều loại hình tiền khác nhau, trong đó Tiền Trung ương phát hành (Giấy bạc cụ Hồ, Giấy bạc Tài chính) là đồng tiền độc lập tự chủ của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã góp phần phá vỡ thế độc quyền và hạn chế khả năng thao túng của tiền đồng Đông Dương.
Việc phân chia tiền tệ theo khu vực có làm suy giảm nguyên tắc thống nhất của hệ thống tiền tệ cách mạng, tuy nhiên, tính biệt lập của hệ thống tiền tệ khu vực không làm mất sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ Trung ương đối với hệ thống tiền tệ của ta. Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn giữ độc quyền phát hành tiền tệ và vận hành nó theo cơ chế vừa tập trung, vừa phi tập trung rất có hiệu quả. Chỉ đến khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập thì tiền tệ ở cả 3 khu vực trên mới được thống nhất.
Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/giay-bac-tai-chinh-nam-bo-1947-1954-ky-viii-178003.html











