Gỡ điểm nghẽn để nâng giá trị nông, lâm, thủy sản Việt Nam
Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng giá trị thu về chưa tương xứng đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và phát triển bền vững.
Ghi nhận nhiều ý kiến của doanh nghiệp
Tại cuộc làm việc của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc với các hiệp hội, doanh nghiệp tiêu biểu ngành nông, lâm, thủy sản sáng 25/9, nhiều doanh nghiệp đã phản ánh những điểm nghẽn về vốn, thuế, đất đai, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và thủ tục xuất khẩu.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc làm việc với các hiệp hội, doanh nghiệp tiêu biểu ngành hàng nông, lâm, thủy sản - Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Một vấn đề được đặc biệt quan tâm là sản lượng tăng nhưng giá trị thu về chưa tăng tương xứng. Điều này cho thấy ngành nông nghiệp cần từng bước chuyển từ lợi thế về sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và khả năng tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi.
Câu chuyện của ngành sầu riêng là một ví dụ. Theo đại diện Công ty Chánh Thu, sản lượng sầu riêng Việt Nam trong 5 năm qua đã tăng khoảng 3 lần, thậm chí vượt Thái Lan, nhưng giá trị thu về vẫn thấp hơn. Trong quá trình chế biến, tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao có xu hướng giảm trong khi sản phẩm chất lượng thấp gia tăng.
Nguyên nhân không chỉ đến từ yếu tố thời tiết mà còn liên quan đến tình trạng khai thác cây quá mức, sử dụng vật tư nông nghiệp và sự thiếu chặt chẽ trong liên kết chuỗi sản xuất.
Bài toán nâng cao giá trị cũng được đặt ra với gạo, cà phê, gỗ và nhiều ngành hàng khác. Việt Nam có nhiều sản phẩm nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về sản lượng và xuất khẩu, song năng lực chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia các công đoạn có giá trị gia tăng cao vẫn còn hạn chế.
Đối với ngành gạo, doanh nghiệp cho rằng thương hiệu gạo quốc gia cần được xây dựng trên nền tảng giống, vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định. Ngành cà phê cần tăng tỷ trọng chế biến sâu, xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu và đẩy mạnh quảng bá thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong khi đó, ngành gỗ cần nguồn nguyên liệu ổn định, có khả năng truy xuất để phục vụ chế biến sâu.
Trong lĩnh vực thủy sản, khó khăn về nguyên liệu cũng đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất. Có thời điểm giá cá tra nguyên liệu lên khoảng 36.000 đồng/kg trong khi giá xuất khẩu quy đổi chỉ khoảng 33.000 đồng/kg, khiến doanh nghiệp chế biến gặp khó trong thu mua.
Việc phát triển các vùng nuôi công nghệ cao lại đòi hỏi quỹ đất đủ lớn để đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý và tuần hoàn nước. Do đó, doanh nghiệp đề nghị rà soát quy hoạch, tạo điều kiện hình thành những vùng nuôi tập trung để có thể đầu tư dài hạn.
Cần xây dựng “hạ tầng tuân thủ”
Bên cạnh chất lượng nguyên liệu, những vướng mắc liên quan đến thuế, tín dụng và thủ tục đang trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) là một trong những vấn đề được các doanh nghiệp ngành gạo, gỗ và thủy sản đề cập nhiều. Tình trạng hồ sơ kéo dài hoặc chính sách được áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương khiến nguồn vốn của doanh nghiệp bị tồn đọng, ảnh hưởng đến khả năng thu mua nguyên liệu và tổ chức sản xuất.

Doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu nông lâm thủy sản cần được tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi khẳng định các quy định về VAT cần được hiểu và áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo cơ quan thuế, hải quan phối hợp hướng dẫn, đồng thời tiếp tục kiểm soát các trường hợp lợi dụng chính sách hoàn thuế.
Tín dụng cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Đặc thù sản xuất nông nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp cần lượng vốn lớn trong khoảng thời gian thu mua ngắn, trong khi đầu tư vùng nguyên liệu, máy móc và chế biến sâu lại cần nguồn vốn dài hạn. Vì vậy, doanh nghiệp đề xuất chính sách tín dụng cần phù hợp hơn với chu kỳ sản xuất, đơn hàng, dòng tiền và hàng tồn kho.
Ở góc độ nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, Phó Tổng Thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn cho rằng cần quan tâm xây dựng “hạ tầng tuân thủ” trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng chuyển từ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ quy trình và chuỗi cung ứng.
Theo đó, cơ sở dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, hệ thống truy xuất nguồn gốc, năng lực kiểm nghiệm và hỗ trợ pháp lý thương mại quốc tế cần được xem như một phần của hạ tầng cạnh tranh quốc gia. Công tác quản lý cũng cần chuyển mạnh sang quản lý rủi ro, hậu kiểm và chia sẻ dữ liệu, hạn chế việc doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục, kiểm nghiệm trùng lặp.
Cùng với tháo gỡ các điểm nghẽn trong nước, các bộ, ngành cho rằng doanh nghiệp và hiệp hội cần chủ động đề xuất nhu cầu cụ thể về thị trường, đối tác và những rào cản cần tháo gỡ. Đồng thời, bản thân doanh nghiệp phải bảo đảm chất lượng, nguồn gốc, uy tín hàng hóa và tăng cường liên kết, tránh cạnh tranh thiếu lành mạnh làm giảm giá trị chung của ngành hàng.
Việc xử lý đồng bộ các vấn đề từ vùng nguyên liệu, chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến vốn, thuế, chế biến và xây dựng thương hiệu được xem là điều kiện quan trọng để nông, lâm, thủy sản Việt Nam từng bước chuyển từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về chất lượng và giá trị.
