Gỡ 'điểm nghẽn' môi trường ở cảng cá
Những phiên chợ cá tấp nập, những chuyến tàu vào ra liên tục tại các cảng cá đem lại sinh kế cho hàng nghìn lao động ven biển. Nhưng ở ngay nơi 'đầu mối' của chuỗi khai thác, tiêu thụ ấy, câu chuyện môi trường vẫn là bài toán khó, cần một cơ chế đủ rõ, đủ lực và đủ bền để đem lại hiệu quả thiết thực.

Cảng cá Quy Nhơn nhìn từ trên cao. (Ảnh HOÀNG QUÂN)
Mặt trời còn chưa ló rạng nhưng tại cảng cá Phan Thiết (phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng) đã nhộn nhịp tàu cá cập bến, đưa hải sản lên bờ. Sau gần một đêm lênh đênh trên biển, thuyền trưởng Nguyễn Văn Bình mang túi rác thải trong chuyến hải trình bỏ vào thùng rác được đặt tại bến cảng. “Thủy hải sản là “nồi cơm” nên ngư dân đều cố gắng bảo vệ môi trường. Rác thải trôi lênh đênh trên biển rất dễ làm hỏng bánh lái, gây ô nhiễm, giảm sản lượng đánh bắt”, ông Nguyễn Văn Bình cho biết.
Nếu rác là phần dễ nhìn thấy, nước thải lại là bài toán kỹ thuật và vận hành dài hơi. Ở cảng cá Phan Thiết, hệ thống thu gom nước thải được tách riêng với nước mưa. Ông Hồ Ngọc Đài, Giám đốc Ban Quản lý các cảng cá Bình Thuận (tỉnh Lâm Đồng) cho biết: Nước thải được dẫn về nhà máy xử lý tập trung với công suất thiết kế 1.250 m³/ ngày. Nước thải sau xử lý đạt cột B theo quy chuẩn nước thải chế biến thủy sản. Để giải quyết mùi hôi, mặt bến và chợ cá được xối rửa hằng ngày; dùng Chlorine 70% để tẩy rửa 3 lần/tuần; đồng thời, phun chế phẩm sinh học Bio-SOC để khử mùi. Rãnh thu gom được nạo vét, khơi thông hằng tuần. Nước thải ở chợ cá được bơm liên tục về nhà máy xử lý tập trung
Tuy nhiên, không phải cảng cá nào cũng giữ được “nhịp” vận hành như vậy. Tại cảng cá La Gi (phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng), mùi hôi, tanh nồng nặc, cách xa hơn 100m vẫn có thể ngửi thấy. Hạ tầng bên trong cảng xuống cấp, trong khi trung bình hằng ngày cảng tiếp nhận hàng trăm tàu cá. Lưu lượng tàu dày đặc tạo sức ép lên hạ tầng thu gom, phân loại rác và hệ thống xử lý nước thải. Trong khi đó, môi trường cảng cá không chỉ chịu tác động từ bên trong; có thời điểm, rác thải đại dương theo thủy triều trôi ngược vào vùng neo đậu khiến âu thuyền trở thành nơi “hứng” rác bất đắc dĩ.
Bài toán môi trường còn phụ thuộc vào cơ chế và nguồn lực duy trì. Ông Hồ Ngọc Đài cho biết: Ban quản lý cảng cá là đơn vị sự nghiệp, không có chức năng xử phạt trong lĩnh vực môi trường. Vì vậy, biện pháp giải quyết vấn đề môi trường chủ yếu là vận động tiểu thương ký cam kết và hợp đồng dịch vụ xử lý nước thải cho người dân; khi phát hiện vi phạm thì lập biên bản và chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý. Đáng chú ý, ở cảng cá La Gi tồn tại 2 chủ thể quản lý trên cùng một không gian cảng. Ban Quản lý chỉ quản lý trụ sở và mặt bến (khu tàu cá cập cảng); khu vực cho tiểu thương thuê để kinh doanh lại thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn BOT Cảng cá La Gi. Điều này khiến vấn đề ô nhiễm ở cảng cá khó giải quyết vì không rõ trách nhiệm.
Ông Đào Xuân Thiện, Giám đốc Ban Quản lý cảng cá Bình Định (tỉnh Gia Lai) cho biết: Phần chi cho vệ sinh môi trường tại cảng chỉ chiếm tỷ lệ 5% trong tổng nguồn thu. Không phải địa phương không muốn làm tốt hơn, mà cơ chế phân bổ tài chính chưa rõ ràng, chi thế nào cho đúng định mức, lấy nguồn nào cho hợp pháp. Một khó khăn khác là nhân lực và tổ chức. Đơn vị có gần 50 cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ quản lý cảng cá Quy Nhơn, cảng cá Đề Gi, bến cá Tân Phụng, bến cá Nhơn Lý. Số nhân lực quá ít so với khối lượng công việc phải thực hiện và phải “kiêm nhiệm” nhiều nhiệm vụ.
Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến tính bền vững sau các chương trình hỗ trợ. Nhiều mô hình về thu gom rác, giảm rác thải đại dương, hướng dẫn ngư dân đem rác về bờ… khi có dự án thì vận hành tốt, tạo thói quen, có truyền thông và hỗ trợ vật chất. Nhưng dự án kết thúc, không có nguồn kinh phí thường xuyên hoặc cơ chế thu phí để duy trì, mô hình bị dừng lại, cảng cá quay về tình trạng cũ.
Điều đáng ngại là ô nhiễm cảng cá ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân sống quanh cảng; du khách e ngại; hình ảnh đô thị biển bị ảnh hưởng; hoạt động kinh tế cũng vì thế mà mất điểm. Trong khi đó, để giải quyết ô nhiễm, không thể chỉ tăng tần suất thu gom rác hay phun khử mùi mà phải thay đổi cách vận hành, đầu tư hạ tầng, buộc các tác nhân trong chuỗi khai thác, thu mua, dịch vụ hậu cần tuân thủ một chuẩn môi trường tối thiểu.
Trước hết, cần chuẩn hóa định mức và cơ chế chi trả ổn định cho dịch vụ môi trường ở cảng cá. Khi có định mức rõ, môi trường không còn là khoản chi mềm. Cùng với đó, cần luật hóa cơ chế sử dụng một phần nguồn thu hợp pháp từ hoạt động cảng cho công tác môi trường. Về kỹ thuật, hướng đi phù hợp là nâng chuẩn xử lý nước thải với mục tiêu là chất lượng nước thải sau xử lý đạt cột A theo quy chuẩn nước thải công nghiệp. Bên cạnh đó, cần chuyển từ thu gom đơn lẻ sang quản lý theo chuỗi với mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải ngành thủy sản. Đối với những khu vực cảng cá ô nhiễm nặng, cần tính toán di dời các cảng cá tập trung vào khu vực riêng biệt để quản lý hiệu quả hơn.
Cần xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý để xử lý hiệu quả khi xảy ra sự cố; đồng thời, tăng cường năng lực và trang thiết bị cho cơ quan quản lý môi trường. Ở khía cạnh khác, nếu nhìn nhận cảng cá như một không gian du lịch, cần tăng cường đầu tư để hình thành khu mua bán, khu hậu cần, khu trải nghiệm, chuẩn hóa quy trình vệ sinh, siết chặt trách nhiệm tàu thuyền và tiểu thương, qua đó tạo ra nguồn thu cho người dân và chính quyền địa phương.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/go-diem-nghen-moi-truong-o-cang-ca-post936077.html












