Góc nhìn văn hoá: Giảm tải sách giáo khoa, không đứt mạch lịch sử dân tộc
Lịch sử không chỉ là những trang ghi chép về quá khứ, mà còn là ký ức cộng đồng, nền tảng văn hóa và điểm tựa tinh thần của mỗi dân tộc. Với Việt Nam, nơi lịch sử dựng nước luôn gắn liền với sự nghiệp giữ nước, giáo dục lịch sử càng mang ý nghĩa đặc biệt trong việc bồi đắp lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và trách nhiệm công dân cho thế hệ trẻ.
Bởi vậy, yêu cầu rà soát chương trình, sách giáo khoa theo hướng giảm tải, chú trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc, như chỉ đạo của Thủ tướng Lê Minh Hưng, không đơn thuần là câu chuyện điều chỉnh dung lượng kiến thức. Điều quan trọng hơn là tổ chức lại tri thức sao cho học sinh hiểu được dòng chảy lịch sử, nhận diện những giá trị làm nên bản sắc Việt Nam và có khả năng phân biệt sự thật lịch sử với những cách diễn giải phiến diện, xuyên tạc theo kiểu “lật sử”, gây bức xúc dư luận xã hội.
Từ thực tế giảng dạy, những đề xuất về khắc phục trùng lặp, bổ sung các mắt xích chuyển tiếp và làm rõ bối cảnh, nguyên nhân, ý nghĩa của sự kiện đang gợi mở một vấn đề căn cốt: Giảm tải thế nào để lịch sử trở nên dễ hiểu hơn, chứ không bị rời rạc, đứt đoạn? Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong việc xây dựng nền tảng tri thức lịch sử vững chắc, góp phần phòng ngừa những biểu hiện xuyên tạc, bóp méo quá khứ dân tộc.

Tối 3/8/2026, Bộ GD&ĐT đã thông tin về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về môn Lịch sử. Ảnh: chinhphu.vn
Tinh giản kiến thức, không giản lược chiều sâu lịch sử
Một trong những bất cập cần được quan tâm khi rà soát sách giáo khoa là mối liên kết giữa các giai đoạn lịch sử, giữa các lớp học và cấp học. Chẳng hạn, trong sách Lịch sử và Địa lí lớp 5, bộ kết nối tri thức với cuộc sống, bài học về khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê tiếp nối bằng bài về triều Nguyễn, trong khi phong trào Tây Sơn và triều Tây Sơn không có bài riêng ở khoảng chuyển tiếp này. Dù nội dung về Quang Trung và phong trào Tây Sơn được bố trí ở các lớp trên, cách sắp xếp ấy vẫn đặt ra câu hỏi về khả năng giúp học sinh tiểu học hình dung tiến trình lịch sử một cách liền mạch.
Cuối thế kỷ XVIII là giai đoạn đầy biến động, gắn với phong trào Tây Sơn, những chiến thắng chống quân Xiêm, quân Thanh và sự thay đổi lớn trong cục diện chính trị đất nước. Nếu chưa có đủ kiến thức nền để nhận biết giai đoạn chuyển tiếp này, học sinh có thể khó hình dung vì sao triều Nguyễn được thành lập đầu thế kỷ XIX, cũng như những biến động đã đưa đất nước từ một thời kỳ sang thời kỳ khác.
Tất nhiên, không thể chỉ căn cứ vào việc một lớp chưa có bài học riêng để kết luận chương trình đã bỏ quên một giai đoạn lịch sử. Vấn đề cần xem xét là nội dung ấy đã được giới thiệu ở đâu, với mức độ nào, có phù hợp với lứa tuổi hay không và các lớp học có bổ trợ cho nhau hiệu quả không. Tinh giản hợp lý phải dựa trên sự đối chiếu toàn diện, thay vì máy móc bổ sung bài học hoặc tăng số trang sách.
Tương tự, khi học về Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, học sinh cần được tiếp cận không chỉ với khái niệm nhà nước sơ khai, mà còn với những nền tảng hình thành cộng đồng cư dân, đời sống kinh tế và không gian văn hóa Đông Sơn. Khi tìm hiểu các cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến Lý Bí, Khúc Thừa Dụ và Ngô Quyền, các em cần nhận ra mối liên hệ giữa những cuộc đấu tranh qua nhiều thế kỷ trong tiến trình giành quyền tự chủ.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đây chính là sự khác biệt giữa học thuộc lịch sử và hiểu lịch sử. Một bên là ghi nhớ những mốc thời gian, tên người, địa danh; bên kia là nhận thức được sự vận động của cộng đồng dân tộc qua những thử thách, biến cố và lựa chọn lịch sử. Những sự kiện riêng lẻ chỉ thực sự phát huy giá trị giáo dục khi được đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh ra đời, nguyên nhân, kết quả và ảnh hưởng đối với những giai đoạn tiếp theo.
Vì thế, giảm tải không nên đồng nghĩa với giản lược chiều sâu nhận thức. Có thể rút bớt những chi tiết ít thiết yếu, những nội dung trùng lặp hoặc những yêu cầu ghi nhớ quá nặng nề, nhưng cần giữ lại các dấu mốc có ý nghĩa nền tảng và làm rõ những mối liên hệ cốt yếu. Một bản đồ lịch sử, một đoạn tư liệu xác thực hay một câu hỏi gợi mở đúng trọng tâm đôi khi có giá trị hơn nhiều trang diễn giải dài dòng.
Cách tiếp cận ấy cũng cần được thể hiện trong việc giảng dạy các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Với ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, bên cạnh diễn biến và kết quả các trận đánh, học sinh cần hiểu bối cảnh bành trướng của đế chế Mông Cổ, vị trí chiến lược của Đại Việt và những yếu tố tạo nên sức mạnh kháng chiến. Việc khai thác phù hợp Hịch tướng sĩ, tư liệu về Hội nghị Diên Hồng và chủ trương khoan thư sức dân sẽ giúp các em nhận ra rằng thắng lợi không chỉ đến từ tài năng quân sự, mà còn từ ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và nghệ thuật tổ chức phát huy sức mạnh toàn dân.
Với khởi nghĩa Lam Sơn, những trích đoạn phù hợp từ tư liệu về Hội thề Lũng Nhai và Bình Ngô đại cáo có thể giúp học sinh hiểu sâu hơn về ý chí giành độc lập, tư tưởng nhân nghĩa và khát vọng hòa bình của dân tộc. Qua đó, lịch sử không còn là những trang biên niên khô cứng, mà trở thành câu chuyện về trí tuệ, bản lĩnh, phẩm giá và sức sống văn hóa Việt Nam.
Bảo vệ sự thật lịch sử, vững nền tảng trước luận điệu xuyên tạc
Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm tính khách quan, toàn diện và chính xác trong cách giải thích lịch sử. Thực tế cho thấy, việc trình bày quá cô đọng, thiếu bối cảnh hoặc nhấn mạnh một vài yếu tố riêng lẻ có thể khiến học sinh hình thành cách nhìn đơn giản về những vấn đề phức tạp. Bởi vậy, rà soát sách giáo khoa không chỉ là kiểm tra sự hiện diện của một nhân vật hay sự kiện, mà còn phải đánh giá xem nội dung được trình bày đã giúp người học hiểu đúng bản chất và ý nghĩa lịch sử hay chưa.
Chẳng hạn, khi đề cập triều Nguyễn và quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, không nên giản lược nguyên nhân mất nước thành một nhận định duy nhất rằng triều đình bảo thủ nên đất nước rơi vào tay thực dân. Cần đặt những hạn chế của triều đình, các đề xuất cải cách, lựa chọn đối ngoại, tương quan lực lượng và phong trào kháng chiến của nhân dân trong hoàn cảnh cụ thể của thế kỷ XIX. Cách tiếp cận này vừa tránh tô hồng hay phủ nhận cực đoan một triều đại, vừa giúp học sinh hiểu rằng những biến cố lớn thường là kết quả của nhiều nguyên nhân đan xen.
Đó cũng là nguyên tắc cần vận dụng khi trình bày lịch sử bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975, bao gồm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và những năm tiếp theo, trong đó có mặt trận Vị Xuyên giai đoạn 1984–1989. Những sự kiện này cần được thể hiện với thông tin chính xác, bối cảnh rõ ràng và dung lượng phù hợp với yêu cầu cần đạt được của từng cấp học. Việc rà soát phải dựa trên đối chiếu cụ thể nội dung chương trình, sách giáo khoa và tư liệu lịch sử, phân biệt rõ điều gì thực sự chưa được đề cập, điều gì đã có nhưng trình bày quá cô đọng, thiếu ngữ cảnh hoặc chưa làm nổi bật ý nghĩa.
Đối với lịch sử chủ quyền biển đảo, việc dành một chủ đề riêng ở lớp 11 về lịch sử bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông là điểm đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhận thức về Hoàng Sa, Trường Sa không nên chỉ được hình thành trong một chuyên đề ở bậc trung học phổ thông. Tùy theo lứa tuổi, học sinh có thể từng bước tiếp cận bản đồ, tư liệu, nhân vật và sự kiện để hiểu quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Những sự kiện như Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 và hoạt động bảo vệ chủ quyền sau năm 1975 cần được trình bày chính xác về thời điểm, chủ thể và bối cảnh, tránh cách diễn đạt mơ hồ hoặc khiến người học nhầm lẫn.
Cần nhấn mạnh rằng kết nối lịch sử bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ không có nghĩa đồng nhất tính chất của mọi cuộc chiến tranh. Mỗi giai đoạn có hoàn cảnh chính trị, quan hệ quốc tế và đặc điểm riêng. Điều xuyên suốt cần giúp học sinh nhận thức là truyền thống độc lập, tự chủ, ý chí bảo vệ chủ quyền và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam, được thể hiện bằng những hình thức khác nhau trong từng hoàn cảnh lịch sử.
Từ góc nhìn văn hóa, giáo dục lịch sử còn là quá trình trao truyền ký ức cộng đồng và hình thành năng lực nhận thức độc lập. Một thế hệ chỉ ghi nhớ những kết luận có sẵn nhưng không hiểu căn cứ của kết luận ấy sẽ khó đứng vững trước những thông tin sai lệch. Ngược lại, khi được tiếp cận tư liệu đáng tin cậy, biết đối chiếu nguồn sử liệu, phân tích bối cảnh và nhận diện quan hệ nhân quả, học sinh sẽ có khả năng tự đánh giá những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận hoặc bóp méo lịch sử.
Bởi vậy, chống lật sử không thể chỉ dựa vào những lời khẳng định mạnh mẽ về lòng yêu nước. Cần xây dựng sức đề kháng trước thông tin sai lệch bằng tri thức chính xác, phương pháp tư duy khoa học và thái độ tôn trọng sự thật. Lịch sử phải được trình bày trung thực, kể cả những thành tựu, hạn chế, sai lầm và những vấn đề còn cần tiếp tục nghiên cứu. Chính sự khách quan và chặt chẽ ấy mới tạo nên nền tảng vững chắc cho niềm tự hào dân tộc, thay vì những cách nhìn cực đoan, áp đặt hoặc một chiều.
Rà soát chương trình, sách giáo khoa vì thế cần được tiến hành đồng bộ theo chiều dọc giữa các lớp, cấp học và theo chiều ngang giữa các môn học; đồng thời chú trọng phương pháp giảng dạy, hệ thống tư liệu và năng lực của giáo viên. Mục tiêu không phải đưa thật nhiều kiến thức vào sách, mà là lựa chọn đúng những nội dung cốt lõi, tổ chức chúng thành một tiến trình dễ hiểu, giàu ý nghĩa và phù hợp với nhận thức của học sinh.
Giảm tải là cần thiết để học sinh học lịch sử nhẹ nhàng hơn, nhưng không thể đánh đổi bằng sự đứt đoạn trong nhận thức về quá khứ dân tộc. Một chương trình tốt phải giúp các em hiểu từ đâu cộng đồng Việt Nam hình thành, bằng cách nào dân tộc vượt qua những thử thách để giành và giữ độc lập, những giá trị văn hóa nào được bồi đắp qua các thế hệ và trách nhiệm gì đang đặt ra đối với người trẻ hôm nay.
Giữ mạch lịch sử chính là giữ sự liên tục của ký ức dân tộc, của tri thức và của ý thức trách nhiệm giữa các thế hệ. Khi lịch sử được dạy bằng tư liệu xác thực, cách giải thích khoa học và phương pháp giáo dục phù hợp, sách giáo khoa không chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, mà còn góp phần bồi dưỡng bản lĩnh văn hóa, củng cố ý thức chủ quyền và nâng cao khả năng nhận diện những luận điệu xuyên tạc. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của yêu cầu giảm tải nhưng không đứt mạch lịch sử dân tộc.
V.X.B
