GS.Hoàng Xuân Cơ: Phun sương dập bụi ở Hà Nội cần được tính toán bằng mô hình Chi phí - Lợi ích mở rộng

Trước việc Hà Nội thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi, GS Hoàng Xuân Cơ cho rằng có thể dùng mô hình Phân tích Chi phí - Lợi ích mở rộng (ECBA) thay cho CBA để tính toán các chi phí, lợi ích môi trường.

Trước việc Hà Nội thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi vào ban đêm, GS Hoàng Xuân Cơ cho rằng Thành phố cần coi đây là một dự án đầu tư bài bản, minh bạch số liệu quan trắc và áp dụng mô hình Phân tích Chi phí - Lợi ích mở rộng (ECBA) để đo lường sát thực tế hiệu quả môi trường.

Như đã thông tin, trong nỗ lực ứng phó với ô nhiễm không khí mùa khô, Hà Nội triển khai thử nghiệm xe chuyên dùng phun sương dập bụi trong khung giờ đêm tại khu vực trung tâm. Dư luận và các nhà quản lý đặt ra nhiều kỳ vọng nhưng cũng không ít hoài nghi về hiệu quả thực tế của phương pháp này.

Để làm rõ bản chất khoa học, phương pháp luận đo lường cũng như áp dụng mô hình Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) đối với giải pháp này, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã có cuộc trao đổi với GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam/Ủy viên Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế môi trường.

Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, GS Hoàng Xuân Cơ cho rắng, đối với phương pháp Hà Nội đang thử nghiệm, chi phí dễ xác định nhưng lợi ích thì khó ước tính. Vì vậy, có thể áp dụng mô hình Phân tích Chi phí - Lợi ích mở rộng (ECBA) thay cho mô hình Chi phí - Lợi ích (CBA), khi đó các chi phí, lợi ích môi trường phải được ước tính.

Nền tảng khoa học và bài toán kiểm chứng số liệu quan trắc

Thưa Giáo sư, Hà Nội tiếp tục thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi nhằm giảm thiểu ô nhiễm trong mùa khô. Giáo sư đánh giá như thế nào về phương pháp này cũng như những nỗ lực của chính quyền Thủ đô?

GS Hoàng Xuân Cơ: Về mặt khoa học, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác hại của bụi. Biện pháp có tính quyết định là xác định nguồn gốc phát sinh và tìm cách xử lý trước khi để chúng đi vào không khí. Đây là giải pháp giảm thiểu tận gốc nhưng do nhiều lý do, bụi vẫn được phát sinh và thải vào khí quyển. Nghĩa là chúng ta chấp nhận có bụi trong khí quyển và tìm cách giảm nồng độ bụi trong không khí.

Một trong những cách lắng bụi trong khí quyển bằng phun nước/phun sương đã được thí nghiệm, đưa vào áp dụng ở nhiều nơi và đã có kết quả nhất định. Vì vậy, chúng tôi ủng hộ áp dụng công nghệ này ở Hà Nội với điều kiện phải có dự án nghiên cứu cụ thể cả về thiết bị, lịch trình, đánh giá hiệu quả, chi phí - lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường và công bố minh bạch thông tin có được. Phun sương dập bụi có thể giảm nồng độ bụi trong không khí và khi sương lắng xuống bề mặt có thể làm giảm bụi cuốn lên từ các bề mặt, kể cả bụi cuốn lên khi xe cộ đi qua.

 Hà Nội thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi vào ban đêm.

Hà Nội thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi vào ban đêm.

Hà Nội từng thử nghiệm phương pháp này vào ban ngày và hiện nay lùi thời gian sang khung giờ đêm (23h - 5h sáng) trên các tuyến Vành đai 1. Theo GS, sự thay đổi khung giờ và không gian này ảnh hưởng như thế nào đến diễn biến của bụi mịn trong điều kiện nghịch nhiệt bức xạ đặc trưng của mùa khô?

GS Hoàng Xuân Cơ: Phải có nghiên cứu thử nghiệm thì mới biết nên tiến hành phun sương vào quãng giờ nào là thích hợp nhất. Tôi không rõ thử nghiệm như thế nào nhưng phải trả lời được các câu hỏi như: hiệu quả giảm bụi sau phun sương ra sao?; liệu có thể hình thành thêm bụi mịn PM2.5 thứ cấp không?; phun như vậy có ảnh hưởng đến người đi đường không?; chi phí cho phun sương tính cho một đơn vị thời gian hoặc một diện tích phun ra sao?…

Vì vậy, phải có kế hoạch nghiên cứu và thực hiện thử nghiệm rất cụ thể, chu đáo, thu hút cả các nhà khoa học nữa thì mới có câu trả lời thỏa đáng.

Thưa Giáo sư, dưới góc độ phương pháp luận đo lường môi trường, làm thế nào để thiết kế một quy trình kiểm chứng số liệu quan trắc (đặc biệt là nồng độ PM2.5 và PM10) đủ độ tin cậy trước, trong và sau khi xe phun sương đi qua?

GS Hoàng Xuân Cơ: Hiện nay, thiết bị đo nồng độ bụi liên tục tự động nhỏ gọn đã có nhiều và độ chính xác cũng khá cao. Nếu thiết bị được kiểm định khi đặt tại các trạm đo tự động, cố định, liên tục (thường coi là trạm chuẩn) thì có thể hiệu chỉnh số liệu để có kết quả tốt hơn.

Chỉ có những người nghiên cứu lâu năm về quan trắc bụi mới thiết kế được hệ thống đo, từ địa điểm, thời gian đo phù hợp với kế hoạch phun sương và biết cách xử lý số liệu. Hiện Hà Nội có Trung tâm Quan trắc môi trường (tên cũ) nên có thể đặt hàng quan trắc, phân tích số liệu.

Các cảm biến quan trắc chất lượng không khí hiện nay thường rất nhạy cảm với độ ẩm không khí tăng cao đột ngột. Liệu việc phun sương áp lực cao ngay gần khu vực đặt trạm quan trắc có nguy cơ gây ra hiện tượng “nhiễu số liệu” hoặc tạo ra bức tranh “cải thiện ảo” về chỉ số AQI trong ngắn hạn hay không, thưa GS?

GS Hoàng Xuân Cơ: Đây cũng là vấn đề cần chú ý vì bụi có nhiều thành phần, khi phun sương cũng có thể làm tăng tức thời nồng độ bụi, có thể làm thay đổi giá trị AQI nhưng phải có thí nghiệm mới làm rõ được. Đây là câu hỏi mà những người thực hiện dự án phun sương dập bụi phải trả lời cụ thể.

Để đánh giá hiệu quả thực sự của phương pháp này một cách khách quan nhất, theo Giáo sư, Thành phố có nên công khai chuỗi dữ liệu về nồng độ PM2.5 tại các tuyến đường Vành đai 1 trong suốt đợt thử nghiệm (7-15/10/2026) hay không? Việc minh bạch hóa dữ liệu này có ý nghĩa ra sao đối với bài toán kiểm chứng hiệu quả đầu tư công?

GS Hoàng Xuân Cơ: Vấn đề là hiện nay có các trạm đo nào trong khu vực vành đai 1 hay không? Cả Hà Nội hiện có rất ít trạm đo liên tục, cố định, tự động (tạm gọi là trạm chuẩn) và có một số trạm đo bằng cảm biến. Vì vậy, để có số liệu phải có dự án đo trong thời gian thực hiện dự án phun sương tại một số điểm thuộc vùng dự án.

Quy trình đo, thiết bị đo phải được tính toán để số liệu đo được đủ đánh giá hiệu quả dự án phun sương và cần được thẩm định bởi cơ quan độc lập rồi công khai trên mạng để cộng đồng được biết. Nếu không có kế hoạch đo đạc hợp lý thì khó kiểm chứng hiệu quả đầu tư cho hoạt động phun sương dập bụi của Hà Nội.

GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

Giải bài toán Chi phí - Lợi ích

Là một chuyên gia hàng đầu về phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) trong lĩnh vực môi trường, nếu đặt phương án vận hành đoàn xe phun sương dập bụi vào mô hình CBA, Giáo sư sẽ đưa những biến số đầu vào chính nào vào hai cán cân Chi phí và Lợi ích?

GS Hoàng Xuân Cơ: Trước hết phải coi phun sương dập bụi ở Hà Nội là dự án. Đã là dự án phải tính đến hiệu quả. Nếu đây là dự án công, nghĩa là dự án sử dụng kinh phí từ ngân sách, thì càng phải làm rõ.

Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) là phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế dự án với các giá trị đặc trưng tính được như NPV (lợi nhuận ròng hiện tại), tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR) hoặc tỷ số Lợi ích/Chi phí (B/C). Các giá trị này tính đến mọi chi phí phát sinh và lợi ích thu được.

Với dự án này, chi phí dễ xác định nhưng lợi ích thì khó ước tính. Vì vậy, có thể áp dụng mô hình Phân tích Chi phí - Lợi ích mở rộng (ECBA) thay cho CBA, khi đó các chi phí, lợi ích môi trường phải được ước tính.

Ngoài ra, phải tính trong thời gian đủ dài (có thể lấy thời gian là một chu kỳ đầu tư), khoảng vài chục năm với một hệ số chiết khấu nào đấy. Tất nhiên, có thể lấy hệ số chiết khấu đối với dự án này ở mức rất nhỏ, thậm chí là bằng “0” trong tính toán.

Hiệu quả giảm nồng độ bụi phải tính qua giảm số ca tử vong sớm, giảm số giờ lao động bị mất để ước tính chi phí môi trường tránh được và có thể coi là lợi ích dự án. Loại ước tính như vậy ở Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn có thể thực hiện được bởi một số chuyên gia, trong đó có những chuyên gia của Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam. Kế hoạch quản lý môi trường của Hà Nội đã tiếp cận khả năng áp dụng phương pháp này với sự tài trợ của Tổ chức Không khí sạch châu Á (Clean Air Asia).

Nếu so sánh tỷ số Lợi ích/Chi phí của giải pháp phun sương dập bụi phần ngọn với các giải pháp kiểm soát tại nguồn (như chương trình chấm dứt đốt rơm rạ hay kiểm soát bụi công trường), Giáo sư nhận thấy đâu là khoản đầu tư mang lại thặng dư môi trường cao hơn cho ngân sách Thành phố?

GS Hoàng Xuân Cơ: Câu hỏi rất hay nhưng không dễ trả lời mà phải có các dự án cụ thể, có đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc mới từng bước làm rõ. Rất tiếc là các đề tài loại này chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vì nó cần nhiều nguồn lực, cả quyết tâm, kinh phí, nhân lực, thiết bị… mà ta chưa sẵn sàng huy động.

Hiện tại, nếu có thể giải pháp nào thực hiện được ngay, như dự án phun sương dập bụi chẳng hạn, thì ưu tiên thực hiện nhưng phải có thuyết minh dự án, có cơ sở khoa học, có tính toán hiệu quả để rút kinh nghiệm mở rộng trong tương lai hoặc ngừng áp dụng.

Có ý kiến lo ngại rằng việc phụ thuộc vào các giải pháp cơ giới dập bụi thụ động sẽ dẫn đến “bẫy chi phí biến đổi” - tức là ngân sách phải chi trả liên tục mỗi năm nhưng chất lượng không khí không có sự chuyển biến bền vững. Quan điểm của Giáo sư về nhận định này như thế nào?

GS Hoàng Xuân Cơ: Theo một số tài liệu tham khảo thì hiệu quả phun sương dập bụi phụ thuộc nhiều yếu tố, cả yếu tố kỹ thuật (chọn đúng thiết bị hiệu quả), vận hành đúng quy trình, chọn đúng quãng thời gian, khung giờ thực hiện, chọn đúng điều kiện thời tiết… nên phải rất thận trọng trong quá trình thực hiện. Nếu không vận hành tốt thì dự án sẽ cho hiệu quả rất thấp, thậm chí không hiệu quả.

Cần dự án cụ thể thay vì chỉ “bốc thuốc”

Từ bài toán kinh tế môi trường nêu trên, theo Giáo sư, Hà Nội nên định vị giải pháp phun sương dập bụi này ở vai trò nào trong bức tranh tổng thể về quản trị chất lượng không khí của Thủ đô? Hà Nội nên coi đây là giải pháp duy trì thường xuyên trên toàn Thành phố, hay chỉ nên khoanh vùng áp dụng tình thế tại các “điểm nóng” như khu vực đại công trường, trục đường vận chuyển vật liệu?

GS Hoàng Xuân Cơ: Thật ra ở Việt Nam đã có nhiều dự án chỉ dựa trên kinh nghiệm đã có đâu đó nên khi thực hiện không phù hợp với điều kiện thực dẫn đến hiệu quả thấp.

Tôi không rõ dự án này được xây dựng như thế nào, ai đưa ra ý tưởng, ai làm thuyết minh dự án, ai thẩm định phê duyệt nhưng chắc là đúng quy trình. Tôi cho rằng nếu nghiên cứu kỹ thì giải pháp này chỉ nên thực hiện tại những “điểm nóng”, thời gian “nóng”, khi không khí đã bị ô nhiễm như mấy ngày hôm nay (12-13/10/2026).

Để dòng vốn đầu tư công cho môi trường đạt hiệu quả tối ưu, Giáo sư có những khuyến nghị cụ thể nào giúp Hà Nội hoán chuyển nguồn lực - từ xử lý thụ động sang chủ động kiểm soát gốc phát thải trong giai đoạn mùa khô sắp tới?

GS Hoàng Xuân Cơ: Hiện tại, khi mà thông tin, dữ liệu, số liệu kiểm kê khí thải, số liệu quan trắc chất lượng không khí còn hạn chế thì khó đưa ra khuyến nghị cụ thể và nếu có thì chỉ ở dạng “bốc thuốc” thôi. Nếu có số liệu kiểm kê phát thải, số liệu nghiên cứu về sự hình thành bụi thứ cấp trong không khí xung quanh của Hà Nội thì mới làm rõ do ai gây ra và có thể hạn chế phát thải bằng cách nào.

Hiện tại, bụi đường bốc lên đang được coi là nguồn đóng góp lớn thì phun nước rửa đường và  phun sương dập bụi trong các khoảng thời gian ô nhiễm có thể mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, chúng phải được coi là dự án đầu tư. Chẳng hạn, nếu coi phun sương là dự án, chỉ rõ nguồn vốn, quy trình thực hiện, thiết bị và quy trình vận hành, phải có hệ thống đo đạc, có tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường thì mới có thể thu được kết quả mong muốn.

Vì đây là dự án bảo vệ môi trường, lại khá phức tạp, đặc biệt là trong đánh giá hiệu quả, nên phải có sự tham gia của các nhà khoa học chuyên sâu cả khi lập đề cương, khi thẩm định, khi vận hành và khi đánh giá hiệu quả dự án.

Xin cảm ơn GS Hoàng Xuân Cơ về những kiến giải ý nghĩa này!

Diệu An

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/ha-noi-phun-suong-dap-bui-can-ap-dung-mo-hinh-chi-phi-loi-ich-mo-rong-119342.html