Hải quan lý giải mức thuế xuất khẩu 5% với “viên nén đen đã gia nhiệt”

Theo Cục Hải quan, “viên nén đen đã gia nhiệt” có bản chất là than sinh học thuộc nhóm 44.02, chịu thuế xuất khẩu 5% - mức thấp nhất trong khung hiện hành. Kiến nghị bỏ thuế đối với một số mặt hàng gỗ lạng sẽ được tổng hợp, xem xét khi sửa Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Cục Hải quan vừa có Công văn số 20894/CHQ-NVTHQ trả lời kiến nghị của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam liên quan đến chính sách thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng gỗ và việc phân loại hàng hóa đối với sản phẩm “viên nén đen đã gia nhiệt”.

Cụ thể, đối với mặt hàng có tên khai báo “viên nén đen đã gia nhiệt”, “than làm từ mùn cưa”, Cục Hải quan cho biết, việc phân loại phải căn cứ vào thành phần, bản chất hàng hóa, quy trình sản xuất và đối chiếu với các quy định của Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Theo Chú giải phân nhóm Chương 44, “viên gỗ” thuộc phân nhóm 4401.31, là sản phẩm phụ như vỏ bào, mùn cưa hoặc dăm gỗ của ngành chế biến gỗ, được đóng thành khối bằng cách ép trực tiếp hoặc thêm chất kết dính với hàm lượng không quá 3% khối lượng.

Trong khi đó, nhóm 44.02 quy định về “than củi (kể cả than đốt từ vỏ quả hoặc hạt), đã hoặc chưa đóng thành khối”.

Đáng chú ý, đối với mặt hàng “viên gỗ nén đen đã gia nhiệt”, Cục Hải quan dẫn Thông báo kết quả phân tích số 51/TB-KĐHQ ngày 22/6/2021. Kết quả phân tích xác định sản phẩm là than sinh học (Torrefied biomass hay bio-coal) dạng viên hình trụ, được sản xuất từ gỗ qua quy trình Torrefaction ở nhiệt độ tối đa 300°C trong môi trường Nitơ.

Mẫu hàng có hàm lượng tro 2,6%, carbon 50,81%, lưu huỳnh 0,033% và nhiệt lượng 5.049 kcal/kg. Căn cứ kết quả này, mặt hàng phù hợp phân loại vào nhóm 44.02 - than củi.

Cục Hải quan nhấn mạnh, với các mặt hàng có tên khai báo tương tự, việc phân loại không chỉ dựa vào tên hàng, mà phải căn cứ vào bản chất, thành phần và quy trình sản xuất thực tế.

Về kiến nghị của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng mức thuế xuất khẩu 5% đối với “viên nén đen đã gia nhiệt” chưa phù hợp, Cục Hải quan cho biết, sản phẩm đã được xác định thuộc nhóm 44.02.

Hiện nhóm 44.02 có khung thuế suất thuế xuất khẩu từ 5 - 25%, trừ than gáo dừa và than đốt từ vỏ quả hoặc hạt. Do đó, mức thuế 5% đối với phân nhóm 4402.90 phù hợp với khung thuế xuất khẩu hiện hành và là mức thấp nhất đối với các mặt hàng thuộc phân nhóm này.

Đối với kiến nghị bỏ thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng gỗ lạng mã HS 4408.10.30, 4408.39.20 và 4408.90.90, Cục Hải quan cho biết, các mặt hàng này thuộc nhóm 44.08, đang áp dụng khung thuế xuất khẩu từ 5 - 25%. Việc bỏ thuế xuất khẩu không thuộc thẩm quyền của Chính phủ.

Cục Hải quan cho biết, ngày 15/6/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 8088/BTC-PC gửi Bộ Tư pháp đề xuất bổ sung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào Chương trình lập pháp năm 2027, dự kiến trình Quốc hội tại Kỳ họp tháng 10/2027.

Theo đó, các kiến nghị của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam sẽ được Bộ Tài chính tổng hợp, xem xét trong quá trình xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Song Linh

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hai-quan-ly-giai-muc-thue-xuat-khau-5-voi-vien-nen-den-da-gia-nhiet-202985.html