Hát bội kể chuyện nghìn năm giữa lòng Hà Nội
Hát bội không thiếu những câu chuyện lớn về lịch sử, khí tiết và phẩm giá con người, nhưng đang thiếu những “lối vào” đủ gần với công chúng trẻ.
Đưa hát bội trở lại đời sống đương đại
Tối 11/9, giữa không gian Hoàng thành Thăng Long, các nghệ sĩ Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TPHCM đã đưa sắc màu sân khấu phương Nam đến với công chúng Thủ đô qua tiết mục Lễ Đại bội, nghi thức diễn xướng gắn với đời sống tín ngưỡng và lễ hội Kỳ Yên ở Nam bộ.
Trong đời sống văn hóa Nam bộ, Lễ Đại bội mang ý nghĩa cầu chúc quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an và thịnh vượng. Mỗi lớp diễn, động tác, màu sắc hóa trang hay nhịp trống đều mang theo những quy ước được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Ngày 12/9, Nhà hát tiếp tục giới thiệu trích đoạn Trần Bình Trọng tuẫn tiết của NSND Đinh Bằng Phi, do NSND Xuân Quan dàn dựng. Khí tiết của vị tướng nhà Trần với lời tuyên ngôn “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” vốn đã quen thuộc trong lịch sử dân tộc. Qua ngôn ngữ đặc trưng của hát bội, câu chuyện lịch sử quen thuộc được phục dựng sinh động, giàu sức cuốn hút, giúp người xem đến gần hơn với nhân vật và tinh thần của một thời đại.
Theo nhà nghiên cứu Vương Hoài Lâm, hát bội và tuồng cổ là hai tên gọi cho cùng một loại hình biểu diễn. Trong đó, tuồng là tên gọi phổ biến nhất hiện nay.

Tạo hình cầu kỳ, màu sắc mạnh và động tác ước lệ làm nên sức hấp dẫn thị giác đặc trưng của nghệ thuật hát bội.
“Hát bội không tái hiện lịch sử theo nguyên tắc tả thực mà xây dựng một hệ thống biểu trưng và ước lệ riêng. Màu sắc trên khuôn mặt góp phần nhận diện phẩm chất, tính cách của nhân vật; ánh mắt, động tác vuốt râu, nhịp xoay người hay cách bước chân đều mang ý nghĩa. Sân khấu có thể gần như không cần bài trí, nhưng bằng diễn xuất của nghệ sĩ, trước mắt khán giả vẫn hiện ra triều đình, chiến trận, cuộc chia ly và cả những thời khắc con người phải lựa chọn giữa sự sống, cái chết, danh dự và khí tiết”, ông chia sẻ.
Chính hệ thống ước lệ chặt chẽ ấy làm nên vẻ đẹp của hát bội, đồng thời tạo ra khoảng cách với một bộ phận công chúng hiện đại. Người xem lần đầu có thể bị hấp dẫn bởi phục trang, hóa trang và âm nhạc, nhưng chưa chắc hiểu nhân vật đang làm gì, vì sao nghệ sĩ bước theo một nhịp nhất định hay tại sao một động tác được lặp lại và nhấn mạnh. Một số người thậm chí chưa bao giờ có cơ hội gặp loại hình này trong một hoàn cảnh đủ gần gũi, cũng chưa được cung cấp những “chìa khóa” cơ bản để đọc hiểu ngôn ngữ sân khấu.
Festival tạo ra cơ hội đầu tiên bằng cách đưa hát bội ra khỏi không gian biểu diễn chuyên biệt. Khán giả đến với một sự kiện văn hóa chung có thể dừng lại vì tiếng trống, một gương mặt hóa trang hoặc bộ phục trang nổi bật. Sự tò mò ban đầu, dù chỉ kéo dài vài phút, vẫn có khả năng trở thành điểm khởi đầu cho nhu cầu tìm hiểu sâu hơn.
Mở lối cho người trẻ đến với hát bội
Trong số đông khán giả đến với Festival Thăng Long – Hà Nội, nhiều người trẻ đặc biệt chú ý đến phần trình diễn hát bội. Những gương mặt được hóa trang cầu kỳ, màu sắc tương phản mạnh, phục trang rực rỡ cùng các động tác hình thể dứt khoát khiến loại hình sân khấu cổ truyền này trở thành một điểm nhấn thị giác nổi bật. Không ít khán giả dùng điện thoại ghi lại màn biểu diễn, cận cảnh tạo hình nhân vật và những khoảnh khắc nghệ sĩ xuất hiện trên sân khấu để đăng tải trên mạng xã hội.
Khán giả Nguyễn Thị Khánh An (ĐH Văn hóa Hà Nội) chia sẻ: “Trước đây tôi chỉ nhìn thấy hát bội qua những bức ảnh nên nghĩ loại hình này khá khó xem. Đến khi nghe tiếng trống trực tiếp và quan sát nghệ sĩ biểu diễn ở khoảng cách gần, tôi mới nhận ra từng động tác đều rất có sức hút. Tôi chưa hiểu hết nhưng lại muốn biết tại sao họ vẽ mặt như vậy”.
Trần Huy Khánh (24 tuổi, Hà Nội) chú ý đến cách kể chuyện trên sân khấu: “Tôi quen xem phim, có thể thấy rõ mọi biểu cảm dù nhỏ nhất của diễn viên. Nhưng với hát bội, có vẻ nghệ sĩ phải dùng cả cơ thể để diễn. Qua tìm hiểu mới biết sân khấu này có một kiểu ngôn ngữ riêng. Nếu trước tiết mục có phần giới thiệu ngắn về nhân vật và các động tác chính thì người mới xem sẽ dễ nhập cuộc hơn”.

Sự kết hợp giữa trình thức vũ đạo, âm nhạc, hóa trang và diễn xuất hát bội, phản ánh quan niệm về sự vận hành của vũ trụ và khát vọng hướng đến cuộc sống an lành, thịnh vượng của cộng đồng.
“Để người trẻ có thể hiểu và yêu di sản, cần cung cấp cho họ những kiến thức cơ bản. Đó có thể là phần dẫn giải ngắn trước buổi diễn, hoạt động trải nghiệm hóa trang, cuộc trò chuyện với nghệ sĩ, video giới thiệu từng kiểu nhân vật hoặc phụ đề giúp người xem theo dõi nội dung. Khi những quy ước căn bản được giải mã, sự cầu kỳ của hát bội lại trở thành sức hấp dẫn”, NSND Trịnh Thúy Mùi (Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam) nhận định.
Theo bà, khoảng cách giữa hát bội và khán giả trẻ không hẳn bắt nguồn từ sự thờ ơ, mà còn do nhiều người chưa từng được hướng dẫn cách tiếp cận loại hình nghệ thuật này. Hệ thống nhân vật, màu sắc hóa trang, động tác hình thể và lối hát đều tuân theo những quy ước riêng. Nếu thiếu kiến thức nền, người xem dễ bị cuốn hút bởi vẻ ngoài rực rỡ nhưng khó hiểu được nội dung và ý nghĩa của lớp diễn.
Bởi vậy, hoạt động giới thiệu hát bội cần được tổ chức như một quá trình dẫn dắt công chúng. Những trải nghiệm ngắn, trực quan có thể giúp người trẻ bước qua cảm giác xa lạ ban đầu, từ tò mò về tạo hình đến chủ động tìm hiểu lịch sử, kỹ thuật biểu diễn và giá trị văn hóa phía sau sân khấu.
Sau festival, làm gì để giữ chân khán giả?
Việc đưa Lễ Đại bội và Trần Bình Trọng tuẫn tiết đến Festival Thăng Long – Hà Nội có giá trị vượt ra ngoài một chuyến biểu diễn. Hát bội Nam bộ đã bước vào dòng chảy chung của một sự kiện quy tụ nhiều vùng văn hóa, tiếp xúc với những khán giả có thể chưa từng chủ động mua vé xem một vở hát bội.
Festival có lợi thế tập trung đông người, tạo không khí cởi mở và khuyến khích sự khám phá. Trong môi trường ấy, công chúng không phải vượt qua cảm giác e ngại khi bước vào một nhà hát chuyên biệt. Họ có thể bắt gặp di sản một cách tự nhiên rồi lựa chọn dừng lại để tìm hiểu sâu hơn.
Nhưng festival không thể tự mình giải quyết bài toán khán giả. Một đêm diễn có thể tạo ấn tượng; để ấn tượng ấy phát triển thành thói quen thưởng thức cần cả chuỗi hoạt động tiếp nối. Sau lần gặp đầu tiên, khán giả phải biết có thể xem hát bội ở đâu, vào thời điểm nào, nên bắt đầu với vở diễn nào và tìm hiểu ngôn ngữ sân khấu từ nguồn nào.
Các buổi diễn định kỳ tại di tích, chương trình dành cho học sinh, hoạt động hậu trường, tọa đàm sau suất diễn hay nội dung số được xây dựng có hệ thống đều có thể kéo dài vòng đời của cuộc gặp tại festival. Khi công chúng được tiếp cận thường xuyên, hát bội mới có khả năng trở thành một phần của sinh hoạt văn hóa đương đại.
Theo NSND Trịnh Thúy Mùi, một loại hình sân khấu chỉ có thể tồn tại khi còn được biểu diễn, còn người xem và còn thế hệ kế tiếp đủ khả năng làm nghề. Bởi vậy, bảo tồn hát bội không dừng ở việc lưu giữ kịch bản, phục trang hoặc ghi hình các vở diễn. Phần khó khăn hơn là duy trì một cộng đồng thực hành nghệ thuật. Nếu một nghệ sĩ trẻ dành nhiều năm để học nghề nhưng hiếm khi được bước lên sân khấu, chuỗi trao truyền rất dễ bị đứt quãng. Giữ nghề, xét đến cùng, còn là tạo ra việc làm từ chính nghề nghiệp đó.
