Hậu kiểm hải quan: Giảm rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp gia công, chế xuất
Cơ quan Hải quan chuyển mạnh sang hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro, đòi hỏi doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất kiểm soát chặt dữ liệu, hồ sơ để hạn chế nguy cơ truy thu thuế, xử phạt.

Hậu kiểm hải quan: Giảm rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp gia công, chế xuất. Ảnh minh họa.
Trong hai ngày 30–31/7, Cục Hải quan tổ chức hội nghị đánh giá toàn diện công tác quản lý, giám sát và kiểm tra sau thông quan đối với loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu và doanh nghiệp chế xuất. Phó Cục trưởng Cục Hải quan Trần Đức Hùng chủ trì hội nghị.
Theo lãnh đạo Cục Hải quan, hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh, chuỗi cung ứng ngày càng mở rộng và phức tạp, trong khi phương thức quản lý hải quan đang chuyển mạnh sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Thực tế này đòi hỏi nâng cao hiệu quả quản lý đối với các loại hình có lượng nguyên liệu nhập khẩu miễn thuế lớn và quá trình sản xuất kéo dài qua nhiều công đoạn.
Hội nghị tập trung vào 11 chuyên đề, phân tích những vấn đề phát sinh trong quản lý, giám sát và kiểm tra sau thông quan; đánh giá việc thực hiện chính sách tại các đơn vị, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình và tăng cường kiểm soát rủi ro.
Rủi ro nằm ở sự thiếu đồng bộ của dữ liệu
Đặc thù của doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu và doanh nghiệp chế xuất là khối lượng hàng hóa lớn, nhiều chủng loại nguyên liệu, vật tư được đưa vào sản xuất trong thời gian dài. Hoạt động này có thể phát sinh phế liệu, phế phẩm, nguyên liệu dư thừa, hàng hỏng hoặc sản phẩm phải sửa chữa, bảo hành.
Do đó, khi kiểm tra sau thông quan, cơ quan Hải quan không chỉ xem xét từng tờ khai riêng lẻ mà còn có thể đối chiếu dữ liệu hải quan với sổ kế toán, chứng từ kho, định mức thực tế, báo cáo quyết toán và tình hình sản xuất tại doanh nghiệp.
Rủi ro pháp lý có thể phát sinh khi số liệu nhập – xuất – tồn trên báo cáo quyết toán không khớp với hệ thống kế toán và quản trị kho; mã nguyên liệu, sản phẩm được quản lý không thống nhất; định mức khai báo không phản ánh đúng thực tế sản xuất; hoặc doanh nghiệp không lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh việc sử dụng, xử lý nguyên liệu, vật tư.
Đối với doanh nghiệp chế xuất, việc đưa hàng hóa vào hoặc ra khỏi khu vực sản xuất cũng cần được theo dõi bằng chứng từ, sổ kế toán chi tiết theo quy định. Những giao dịch như thuê gia công lại, tiêu hủy nguyên liệu, chuyển mục đích sử dụng, bán vào thị trường nội địa, sửa chữa hoặc bảo hành hàng hóa đều có thể phát sinh nghĩa vụ về thủ tục hải quan và thuế.
Một trong những điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là báo cáo quyết toán. Số liệu báo cáo phải phản ánh chính xác tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu; đồng thời có khả năng truy xuất, đối chiếu với chứng từ kế toán và thực tế tồn kho.
Nếu số liệu chênh lệch nhưng doanh nghiệp không giải trình được nguyên nhân hoặc không có hồ sơ chứng minh, lượng nguyên liệu thiếu hụt có thể bị xem xét về nghĩa vụ thuế và xử lý theo quy định. Vì vậy, báo cáo quyết toán không nên chỉ được lập vào cuối kỳ mà cần được kiểm soát thường xuyên trong suốt quá trình sản xuất.
Chủ động tự kiểm tra trước khi hậu kiểm
Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm giúp rút ngắn thời gian thông quan nhưng cũng làm tăng trách nhiệm tự khai, lưu trữ chứng từ và tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.
Để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần thống nhất dữ liệu nguyên liệu, vật tư và sản phẩm giữa bộ phận xuất nhập khẩu, kế toán, kho và sản xuất; thường xuyên đối chiếu tờ khai hải quan với sổ kế toán và tồn kho thực tế.
Định mức, hao hụt, phế liệu và phế phẩm phải được theo dõi, xử lý đúng quy định, có đầy đủ hồ sơ chứng minh. Mọi chênh lệch cần được xác định nguyên nhân, điều chỉnh và lưu tài liệu giải trình kịp thời.
Hệ thống dữ liệu minh bạch, có khả năng truy xuất sẽ giúp doanh nghiệp giảm nguy cơ bị truy thu thuế, xử phạt và hạn chế gián đoạn hoạt động sản xuất.











